Trăng Sao Đắm Đuối _ (Đà Lạt Ngày Tháng Cũ_#21)

  • PDF

TRĂNG SAO ĐẮM ĐUỐI

 dalat.jpg - 22.57 Kb

        Ánh trăng Đà Lạt lung linh huyền ảo ngự trị trên trời. Trăng đậu giữa cành thông. Trăng treo lơ lửng tận đỉnh Lâm Viên. Trăng mênh mông soi thung lũng cô liêu. Trăng vỡ mơ màng trên suối ngọc. Đà Lạt tắm trong biển trăng. Thành phố trôi theo dòng trăng man mác, ngọt ngào như sữa mẹ. Dòng trăng tràn ngập cả hồn người. Xin mời trăng ngồi lại với thi nhân. Ta cùng trăng kể lại cuộc phong trần. Và trăng đã gọi thơ về cho sơn khách tình tự.

     QUÁCH TẤN kể lại chuyện một chuyến đi chơi về ban đêm tại Đà Lạt với HÀN MẶC TỬ:

     “Tối đến, tôi đưa Tử đi dạo. Dạo cảnh Đà Lạt lúc ban đêm cũng là một kỳ thú. Những con đường quanh co, khi lên cao, khi xuống thấp, nhiều khi đường chồng lên nhau. Lắm nơi, đứng xa mà trông thấy như những cuộn vải đen giăng lơ lửng trên đọt cây... Đèn điện lẫn lộn cùng sao, trên cao có, dưới thấp có, chỗ thì chói lọi giữa không, chỗ thì khép nép trong cành lá... Mùi nhựa thông ban đêm bay ngát cả không khí. Thỉnh thoảng mùi hoa Mimosa, mùi hoa Viollet trộn lẫn vào tạo thành một hương vị đặc biệt, hít vào thấy nhẹ cả châu thân.”

     QUÁCH TẤN kể tiếp là HÀN MẶC TỬ rung động trước khung cảnh nên thơ của Đà Lạt trong đêm trăng nên về sau này đã sáng tác bài thơ “Đà Lạt trăng mờ”:

     “Và tuy Tử sống với Đà Lạt không được nhiều ngày, song vẻ đẹp huyền diệu của non sông ảnh hưởng vào thơ Tử sau này không ít. Tiêu biểu nhất, Tử có bài Đà Lạt Trăng Mờ. Bài này tuy mãi về sau Tử mới làm, song nguồn cảm hứng đã khơi từ những ngày đến Đà Lạt:

“Đây phút thiêng liêng đã khởi đầu:
Trời mơ trong cảnh thực huyền mơ!
Trăng sao đắm đuối trong sương nhạt
Như đón từ xa một ý thơ.

Ai hãy làm thinh chớ nói nhiều
Để nghe dưới đáy nước hồ reo
Để nghe tơ liễu run trong gió
Và để xem trời giải nghĩa yêu.
Hàng thông lấp loáng đứng trong im
Cành lá in như đã lặng chìm.
Hư thực làm sao phân biệt được!
Sông Ngân Hà nổi giữa màn đêm.

Cả trời say nhuộm một màu trăng,
Và cả lòng tôi chẳng nói rằng,
Không một tiếng gì nghe động chạm
Dẫu là tiếng vỡ của sao băng.”

     Bài thơ “Đà Lạt trăng mờ” đã được HÀ XUÂN TẾ dịch sang tiếng Pháp, đăng trên tạp chí Đông Dương (Indochine) số 25, năm 1941, và HẢI LINH phổ thơ thành nhạc hợp xướng:

“DALAT, UNE NUIT DE LUNE VOILE”:

Déjà, la minute divine a commencé,
Le ciel semblait rêver dans un tableau plein de rêves...
La lune et les étoiles étaient noyées dans une brume blafarde.
Au loin, un poème s’annonçait, s’ébauchait...

Silence! je vous prie, ne parlez pas!
Ecoutons l’eau qui murmure au fond du lac...
Ecoutons les feuilles de saule tremblantes dans le vent,
Ecoutons le Ciel qui nous explique le sens profond de l’amour.

Obscurement, les pins se tenaient debout dans le silence,
Leurs branches et leurs feuilles semblaient toutes noyées.
On ne pouvait les distinguer du noir qui les enveloppait.
Sur le rideau de la nuit, le Fleuve d’Argent (voie lactée) surnageait.

Toute la voute céleste était enivrée d’une uniforme teinte de lune,
Et tout mon coeur était sans paroles.
Rien, aucun bruit ne troublait le silence,
Pas même l’éclat lointain d’une étoile filante qui se brisait.”

     TRẦN UYÊN THI bình bài thơ “Đà Lạt trăng mờ” như sau: 

     “Cũng như bài thơ của Quách Tấn, chất liệu làm cho cảnh vật mờ nhạt đi trong bài thơ này là sương. Sương làm cho muôn ngàn tinh tú trở nên lung linh huyền ảo, làm cho những rặng thông xanh chìm đắm trong mơ màng, trầm lắng và mông mênh. Và, chính ngay lúc đó, là giây phút mối giao cảm thiêng liêng giữa con người và tạo vật bắt đầu nảy nở

     Tôi thích nhất là tiếng “suỵt!” thầm thì dễ thương của thi sĩ họ Hàn: “Ai hãy làm thinh, chớ nói nhiều! Để nghe dưới đáy nước hồ reo / Để nghe tơ liễu run trong gió...” Nói chi cho nhiều! Cái đẹp và chân lý luôn vượt thoát mọi ngôn từ (dù là ngôn từ của thi nhân). Hãy lắng lòng lại, hãy buông bỏ hết những định kiến, những ý niệm, những đám mây mù trong tâm hồn để còn trơ lại một bầu trời xanh trong vắt, lúc đó mới có thể ôm trọn và phản chiếu được thực tại một cách trọn vẹn và chính xác nhất, như nó là (as it is).

     “Cả trời say nhuộm một màu trăng.” Chữ say ở đây là một “nhãn tự”, nó làm cho con rồng được điểm xong mắt và muốn rùng mình bay ra khỏi bức tranh. Đâu là tiếng tơ liễu run run trong gió? Đâu là tiếng nước thầm thì dưới khe? Tất cả bây giờ bỗng im bặt. Cả trời đất ngất ngư, mơ màng. Vì say! Say trăng! “Không một tiếng gì nghe động chạm” nữa hết. Ánh trăng nuốt hết mọi âm thanh, thâu tóm hết mọi sự xao động. Ở vào khoảnh khắc thiêng liêng kỳ diệu này, dù cho cả tảng sao băng có vỡ tung thành từng mảnh đi nữa, thì tiếng vỡ của nó cũng sẽ tan ngay vào trong luồng ánh sáng đang bàng bạc mênh mông trải khắp nhân gian mà thôi!

     Tôi ngờ rằng nếu hai bài thơ trên đây không có nét mờ nhạt do sương mù mang lại, thì sẽ không có cái thần hồn đó.”

      Phong vị của Đà Lạt, ánh trăng Đà Lạt còn phảng phất trong nhiều bài thơ của HÀN MẶC TỬ như một bài viết và đề tặng Xuân Diệu, để ghi lấy một đêm trăng gặp gỡ ở đất Tràng An. Đó là bài thơ “Huyền ảo”:

“Mới lớn lên trăng đã thẹn thò,
Thơm như tình ái của ni cô.
Gió say lướt mướt trong màu sáng,
Hoa với tôi đều cảm động sơ.

Đang khi mầu nhiệm phủ ban đêm,
Có thứ gì rơi giữa khoảng im
Rơi tự thượng tầng không khí xuống
Tiếng vang nhè nhẹ dội vào tim.

Tôi với hồn hoa vẫn nín thinh,
Ngấm ngầm trao đổi những ân tình,
Để thêm ấm áp nguồn tơ tưởng,
Để bóng trời khuya bớt giật mình.
Từ đầu canh một đến canh tư,
Tôi thấy trăng mơ biến hóa như
Hương khói ở đâu ngoài xứ mộng
Cứ là mỗi phút mỗi nên thơ.

Ánh trăng mỏng quá không che nổi
Những vẻ xanh xao của mặt hồ,
Những nét buồn buồn tơ liễu rủ
Những lời năn nỉ của hư vô.

Không gian dày đặc toàn trăng cả!
Tôi cũng trăng mà nàng cũng trăng.
Mỗi ảnh mỗi hình thêm phiếu diếu,
Nàng xa tôi quá nói nghe chăng?"

     Trăng Đà Lạt gợi hứng cho Hàn Mặc Tử sáng tác “Đà Lạt trăng mờ” cũng khơi nguồn cho Quách Tấn viết “Đà Lạt đêm sương”. QUÁCH GIAO, con trai nhà thơ Quách Tấn, cũng kể lại rằng:      

     “Ba tôi và Hàn Mặc Tử quen nhau từ năm 1931. Khi đó ba tôi làm việc tại tòa công sứ Đà Lạt, Hàn Mặc Tử sống với mẫu thân tại Qui Nhơn”… “Năm 1932, Hàn Mặc Tử  làm ở sở đạc điền Qui Nhơn. Mùa xuân năm Kỷ Dậu (1933), Hàn Mặc Tử nhân được nghỉ phép lên Đà Lạt thăm ba tôi. Hai nhà thơ đi thưởng ngoạn các thắng cảnh, từ thác Cam Ly đến rừng Ân Ái,”… “Sau đêm ngắm trăng trên mặt hồ Đà Lạt, Hàn Mặc Tử và ba tôi đều bị cảm lạnh. Một tuần sau hai người chia tay. Vẻ đẹp huyền diệu của non sông Đà Lạt đã là nguồn cảm hứng cho hai bài thơ “Đà Lạt đêm sương” và “Đà Lạt trăng mờ” của ba tôi và Hàn Mặc Tử.”

(Trích: “ĐÀ LẠT NGÀY THÁNG CŨ”
Soạn giả: LS. Ngô Tằng Giao)

1.dalat.jpg - 117.83 Kb

dalat_vn.jpg - 68.17 Kb

 

Bạn đang theo dõi trang: Đà Lạt Ngày Tháng Cũ Trăng Sao Đắm Đuối _ (Đà Lạt Ngày Tháng Cũ_#21)