Thành Phố Văn Hoá _ (Đà Lạt Ngày Tháng Cũ_#26)

  • PDF

btx4.jpg - 14.23 Kb

THÀNH PHỐ VĂN HÓA

     Thành phố Đà Lạt có một trình độ văn hóa cao. Do là một vùng khí hậu tốt lành, trước đây phần lớn gia đình khá giả ở Sài Gòn và các tỉnh đã gửi con em lên Đà Lạt học hành nên nơi đây đã trở thành một thành phố văn hóa tập trung nhiều trường học với các sinh viên học sinh trí thức đông đảo.
    
     VI KHUÊ kể rõ về các trường trung học Việt Nam và các nhà sách có tại Đà Lạt trong những ngày xa xưa:
     “Ở đây chúng tôi chỉ xin nhắc lại các trường trung học, mỗi trường một màu sắc đồng phục cho học sinh, nói lên đặc điểm riêng như tên trường đã chọn: trường Trần Hưng Đạo, trường Bùi Thị Xuân, trường Quang Trung, trường Bồ Đề, Trí Đức, Văn Học, Văn Khoa, trường Việt Anh, trường Adran, trung tâm giáo dục Hùng Vương, trường Tân Sanh, trường Minh Đức, trường Kỹ Thuật Lasan, trường Domaine de Marie, trường Thương Mại, trường Phổ Minh, trường Nông Lâm Súc, trường Chi Lăng...
     Và còn các hiệu sách nữa chứ! Không có sách lấy gì đáp ứng nhu cầu tình cảm và tư tưởng của Đà-Lạt hiền hậu, ưa thu mình trong chăn ấm nghe tiếng nói của nội tâm? Cho đến năm 1975, Đà-Lạt có những nhà sách nổi tiếng như: Liên Thanh, Thiên Nhiên, Nhân Văn, Hòa Bình, Thiên Hương, Tuyên Đức, Hồng, Khải Minh, Minh Thu, Khai Trí...”

     Ngoài những trường dạy chương trình Việt còn có các trường  Pháp nổi tiếng như Petit Lycée, trường Grand Lycée (tức là Lycée Yersin), Couvent des Oiseaux, Lasan, Franciscaine... Và còn phải kể đến các trung tâm văn hóa Pháp, Mỹ và Viện Đại Học Đà Lạt. 

     Thành phố cao nguyên này cũng là nơi đào tạo các sĩ quan có trình độ văn hóa cao với các trường Võ Bị Quốc Gia, Chiến Tranh Chính Trị, Chỉ Huy Tham Mưu, Đại Học Quân Sự. 

     Đặc biệt phải kể đến một nơi thiết lập và đào tạo của Thiên Chúa Giáo là Giáo Hoàng Học Viện Pio X - một học viện tôn giáo có tầm vóc quốc gia, đào tạo và cung cấp giáo sĩ có trình độ văn hóa cao cho cả Việt Nam. Đà Lạt là một trung tâm Thiên Chúa Giáo lớn nhất miền Nam Việt Nam. Tuy dân thành phố Đà Lạt theo Phật Giáo chiếm đa số, nhưng có lẽ vì phần lớn các trường trước kia đều do các cha, các dì phước đứng ra tổ chức và trực tiếp dạy dỗ từ đại học, trung học, đến mẫu giáo, nên tinh thần Thiên Chúa Giáo có ảnh hưởng trong đời sống văn hóa của thành phố này. Đó là một yếu tố cá biệt, làm nên sắc thái văn hóa cho thành phố Đà Lạt.

     VIỆT TRANG nhìn các học sinh cắp sách đến trường với bước chân rộn rã trên các nẻo đường nên cảm hứng viết mấy vần thơ:

“Các em
Mai chiều hai buổi
Những bước chân của tuổi học trò
Những bước chân ngây thơ bướm hoa thành phố
Theo giữa dòng đời xa lạ
Ươm một niềm tin
Từng lớp, từng hàng
sách vở là hành trang
Gió mây là bạn đồng hành
Khi vòng quanh nghĩa địa
Lúc lên xuống núi đồi
Ngỡ trường xa xôi hơn cả bên kia thế giới
Đi hoài không mỏi
Đi tìm tiếng gọi tương lai…”

     HUỆ THU khi nhớ lại hình ảnh thành phố cũ chẳng bao giờ lại quên trong đó có ngôi trường Bùi Thị Xuân thân yêu của mình:

“Hoàng Triều Cương Thổ nhớ quê ta
Thị Xã giờ đây vạn dặm xa
Thấy mận Trại Hầm mừng tíu tít
Tưởng hồ Than Thở rộng bao la
Ðồi Cù năm cũ tình thân ái,
Con dốc Hàm Nghi áo thướt tha.
Bùi Thị Xuân ơi! Ơi tuổi trẻ,
Soi gương đã thấy tuyết sương pha.”

     MIÊN DU ĐÀ LẠT cũng nhớ về Đà Lạt những ngày tháng cũ, trong đó hình ảnh những tà áo học trò và ngôi trường xưa khó có thể phai nhòa. Nỗi lòng được bộc lộ trong bài “Đà Lạt buồn ơi!”:

“Bao giờ được trở về Đà Lạt
Thở hít khí trời một  sáng sương
Để được lang thang trên đồi vắng
Để soi bóng nước hồ Xuân Hương
Đà Lạt còn gì để nhớ thương?
Thương tà áo trắng quyện sân trường
Thương em cái thuở ngây thơ quá
Tóc bím em cài hoa Hướng Dương

Đà Lạt bây giờ có khác xưa?
Người em Bùi Thị... có ai đưa?
Con đường Đại Học thông vi vút
Những buổi chiều về lội vũng mưa

Đà Lạt bao giờ hết nhớ nhung
Bao giờ nghe lại tiếng suối rừng
Bao giờ ừ nhỉ bao giờ nhỉ
Đà Lạt buồn ơi chợt rưng rưng.”

     Sau đó MIÊN DU ĐÀ LẠT viết bài thơ: “Người em Bùi Thị ...” (1998) thoạt tiên với những hình ảnh ngôi trường Bùi Thị Xuân thuở xưa với hương Xuân lai láng:

“ta nhớ em
người em Bùi Thị ...
nhớ má em hồng
môi đỏ mọng chiều Xuân
nhớ tà áo trắng vờn trong gió
nhớ dáng em hiền
nghiêng nón buổi sớm mai

ta nhớ em
người em Bùi Thị ...
nhớ buổi thanh Xuân
ta mơ ước một ngày
nhặt chiếc hài xinh xắn
để được đi tìm em
như chàng Hoàng Tử
tìm nàng Công Chúa Lọ Lem”…

     Để rồi lời thơ trầm lắng xuống đầy tiếc nuối với muôn ngàn nỗi ngậm ngùi của người phiêu bạt phương xa gửi về ngôi trường cũ:

“ta nhớ em
người em Bùi Thị ...
đã qua rồi một giấc mơ Xuân
ta ra đi
và em cũng không ở lại
mái trường xưa
ngói đỏ nhạt màu
cổng trường xanh
hoen màu Bùi Thị ...
thôi hết rồi buổi thanh Xuân ấy
ta và em
chẳng bao giờ tái hợp

ta nhớ em
người em Bùi Thị ...
ta yêu em
thuở ấy tuổi Xuân thì...!”

     NGUYỄN MINH TÂM cho biết sơ lược về trường Bùi Thị Xuân:
     “Các phụ huynh học sinh: Trần Văn Khắc (người hướng đạo sinh đầu tiên của Việt Nam), Nguyễn Thúc Quýnh và các Giáo sư Nguyễn Trọng, bà Nguyễn Văn Đãi... chính là những người đầu tiên đã đứng ra vận động thành lập trường trung học công lập Việt Nam đầu tiên ở Đà Lạt: đó là trường trung học Phương Mai (tên công chúa con vua Bảo Đại) ra đời năm 1951 và năm sau thì thêm trường nội trú Bảo Long (hoàng tử con vua Bảo Đại).
     Cuối năm 1955, khi vua Bảo Đại không còn tại vị nữa và nền Đệ Nhất Cộng Hòa được thành lập thì trường Bảo Long thành trường Trần Hưng Đạo và trường Phương Mai đổi tên thành trường Quang Trung.
     Trường chỉ mang tên Quang Trung có hai niên khóa (1955-1957) rồi đổi tên thành trường trung học Bùi Thị Xuân. Vị hiệu trưởng lúc bấy giờ là Giáo sư Phạm Văn Nam và hiệu đoàn trưởng là Giáo sư Nguyễn Trọng.
    Cuối năm 1957-1958, khi thầy Phạm Văn Nam về hưu, thầy Tiến được đề cử xử lý thường vụ trong thời gian ngắn chờ Bộ Quốc Gia Giáo Dục gởi thầy An lên nhậm chức hiệu trưởng trường Bùi thị Xuân. Không được bao lâu thì có biến cố của trường nên nam sinh qua Trần Hưng Đạo, nữ sinh ở lại để khởi đầu là trường Nữ Trung Học Bùi Thị Xuân, nữ sinh trường Trần Hưng Đạo thì qua trường Bùi Thị Xuân. Vị hiệu trưởng đầu tiên của trường nữ này là cô Đỗ Hoàng Hoa, rồi tiếp đến là bà Nguyễn Văn Đãi tức là cô Nguyễn Khoa Diệu Liễu, sau đó là cô Đinh Thị Lệ Minh, rồi cô Thân Thị Hồng. Vị hiệu trưởng cuối cùng là cô Trần Thị Phương Thu (con của cụ Trần Văn Khắc).
     Qua bao đổi thay trường Nữ Trung Học Bùi Thị Xuân vẫn còn tên nhưng tiếc thay không còn là trường Nữ của các nàng Tiên Áo Xanh nữa mà đã trở thành trường Trung Học Phổ Thông Bùi Thị Xuân hỗn hợp cả nam và nữ...!”

     TRẦN VẤN LỆ cũng nhớ ngôi trường xưa khi mình còn là một nhà giáo nên viết bài thơ “Bùi Thị Xuân ơi trường rất nhớ”:

“Bùi Thị Xuân trường một thuở xưa
trên đồi Đalat nở vàng hoa
những cây khuynh diệp run trong gió
đang lạnh lòng người vạn dặm xa

Mười lăm năm trước, ngôi trường đó
tôi ngắm học trò áo trắng bay
nói với các em kìa bướm lượn
bây giờ nhớ quá ngó hoài mây

Mười lăm năm trước tưởng hôm qua
nước Mỹ tôi ngờ đất nước ta
ngày cuối tuần đi lên dốc núi
vào rừng thông đẵm giọt sương sa

Ôi thông xanh biếc, thông Đalat
thơm ngát lòng tôi bụi phấn vàng
gió nhẹ thoáng bay mù phớt phớt
tôi như một kẻ lạc thiên đàng

Tôi đi trên cỏ chân không bước
(dưới lũng em đùa sẽ mất vui)
thầy giáo xuân xanh thời lãng mạn
không dè một phút hiện trong tôi

Nhưng tôi chợt nhớ đầu đang bạc
quay lại nhìn ra đất nước nào
ngủ suốt đêm qua chừ thức dậy
núi đồi Đalat giấc chiêm bao!

Bùi Thị Xuân ơi trường rất nhớ
lời thầy nín lặng các em im
các em chừ chắc chồng con hết
lưu lạc phương nào bến nước duyên
Bùi Thị Xuân ơi trường rất nhớ
bức tranh nữ tướng đẹp như mơ
hành lang tôi đứng khu nhà trọ
ngó xuống nhìn ai hỡi học trò?”

     KIÊM THÊM nhìn các nữ sinh tan trường về, thướt tha với màu áo quen thuộc, rộn ràng trong nhịp bước ngây thơ trong trắng tươi vui. Trong lòng chợt trổi lên một khúc nhạc tình:
     “Đà Lạt có những chiều tan trường về rộn rịp. Tiếng guốc gõ ròn tan trên dốc chùa Linh Sơn, một thứ âm thanh cực kỳ rộn rã, vui như tuổi vừa chớm yêu thương, Những em gái Bùi Thị Xuân, thoáng hiện qua màu áo thiên thanh “thơ ngây ngày nào; chìm khuất trong mưa, mưa bay dạt dào” mất dần trong làn sương chiều, nhạt nhòa khói sóng. Đưa em về cuối ngõ. Ngần ngại nhìn em khi nói câu chia tiếng. Rồi từ đó, chuyện tình cũng lớn dần, nở ra theo màu thời gian, hay đã chết dần theo năm tháng? Và một sáng tinh khôi nào đó, người con gái mới chợt thấy rằng: Mình đã yêu. Hoa vẫn đẹp, nắng vẫn nồng, và tình vẫn tha thiết, cuồng si...”

     NGHIÊU MINH viết tặng trại hè Bùi Thị Xuân 1996 tại thủ đô Hoa Thịnh Đốn bài thơ “Bao nhiêu năm mới có ngày này”:

“Gặp lại nhau tay bắt mặt mừng
Giòng lệ tuôn mà lòng phơi phới
Ba mươi năm, ba mươi màu phượng nở
Bao nhiêu năm mới có ngày nay

Chỉ nhìn nhau không nói nên lời
Này vòng tay thầy cô yêu mến
Họp đàn chim năm châu bốn biển
Bao nhiêu năm mới có ngày này

Bùi Thị Xuân: Ngôi trường thân ái
Áo trắng bay đồi nắng sương mù
Em xe đạp trên đường hoa dại
Rừng thông vang má đỏ sân Cù

Bùi Thị Xuân: Ngôi trường nhung nhớ
Chỉ hình dung ký ức xa vời
Dáng cô thầy, bạn bè nhắc tới
Bùi thị Xuân quá đỗi yêu ơi!
Một tuần qua như trở về tuổi trẻ
Ta tung tăng, nô giỡn vui đùa
Trò và cô như thời niên thiếu
Bao nhiêu năm mới có ngày này.”

     Một trường Việt Nam khác tại Đà Lạt là trường Trần Hưng Đạo. Nhà giáo NGUYỄN NHÂN BẰNG viết về những buổi đầu:
     “Trường Trung Học Trần Hưng Đạo là trường trung học công lập lớn nhất của thành phố Đà Lạt. Trường tọa lạc tại phía Đông Bắc của thành phố thuộc khu phố chín. Trường được thành lập năm 1951. Cơ sở lúc đầu là mười căn nhà nghỉ mát của quân đội Pháp (khu B) để lại chia ra: lớp học năm căn, ba căn cho học sinh nội trú, hai căn cho cư xá giáo chức.
     Ngày mới thành lập, trường chỉ thâu nhận học sinh nội trú có cha mẹ hay có anh em đã hy sinh vì tổ quốc. Sau đó trường Quốc Gia Nghĩa Tử Sài Gòn được thành lập thì các học sinh nội trú được chuyển về Sài Gòn năm 1958.
     Năm 1951 trường Trần Hưng Đạo là trường Bảo Long (tên Hoàng Tử Bảo Long con vua Bảo Đại), sau 1955 mới đổi tên thành trường Trần Hưng Đạo. Vị Hiệu trưởng lúc trường mới thành lập là ông Nguyễn Thúc Quýnh, Trưởng Ty Tiểu Học Đà Lạt lúc bấy giờ kiêm nhiệm. Qua niên khóa sau 1952 thì ông Trịnh Huy Tiến mới chính thức làm Hiệu Trưởng. Mới đầu chỉ có Trung Học Đệ Nhất Cấp, nam nữ học chung. Sang năm 1958, trường mới chuyển thành trường Nam Trung Học của thành phố. Năm 1959, trường có lớp 12 (trường Bùi Thị Xuân năm này chưa mở lớp 12, nên nữ sinh Bùi Thị Xuân học lớp 12 được chuyển qua trường Trần Hưng Đạo).”

     Theo nhà giáo NGUYỄN NHÂN BẰNG  thì các vị Hiệu Trưởng của trường Trần Hưng Đạo từ năm 1951 đến năm 1975 lần lượt như sau: “Nguyễn Thúc Quýnh (1951), Trịnh Huy Tiến (1952), Nguyễn Đình Phú (1953), Hoàng Khôi (1957), Kỳ Quan Lập (1959), Tạ Tất Thắng (1963), Trần Nho Mai (1965), Hoàng Trọng Hàn (1967), Trương Văn Hoàn (1972) và Phạm Phú Thành (1975)”. Nhà giáo cho biết tiếp thêm là sau tháng Tư năm 1975, qua bao nhiêu cuộc đổi thay và “trường Trần Hưng Đạo đã bị mất tên luôn”.
 
    Nhân dịp nói về trường Trần Hưng Đạo người ta phải đề cập đến một học sinh đặc biệt của trường mà về sau này rất nổi tiếng, đó là nhạc sĩ TỪ CÔNG PHỤNG. Nhạc sĩ sinh năm 1942 tại Ninh Thuận. Học hai năm cuối cùng của bậc trung học ở các trường Duy Tân (Phan Rang) và Trần Hưng Đạo (Đà Lạt). Được chọn làm trưởng ban văn nghệ toàn trường. Năm 1960, đang theo học lớp đệ Nhị đã sáng tác ra ca khúc “Bây giờ tháng mấy”. Nhạc sĩ tâm sự: “Nhưng tôi không dám trình bày trước công chúng. Phần vì nhát, phần chưa tin tưởng lắm vào tài sáng tác của mình.” 

     Thời gian ở Đà Lạt, nhạc sĩ cùng một số bạn học thành lập một ban nhạc lấy tên là Ngàn Thông (một người cùng trong ban nhạc sau này cũng trở thành nổi tiếng, đó là Lê Uyên Phương). Ban nhạc chơi hàng tuần cho đài phát thanh Đà Lạt. Ca khúc “Bây giờ tháng mấy” được trình bày lần đầu tiên, qua làn sóng điện này. Ngay sau đó, nhạc sĩ nhận được rất nhiều thư khen ngợi. Những bức thư này đã khuyến khích nhạc sĩ mạnh dạn hơn trong lãnh vực sáng tác về sau này và đã thành công. 

     Tình ca của Từ Công Phụng có những nét đặc biệt mang tính chất lãng đãng, bàng bạc nhẹ nhàng nên thật gần gũi với những người yêu nhạc từ 40 năm qua, kể từ nhạc phẩm đầu tiên “Bây giờ tháng mấy”. Không những thế nhạc sĩ còn có một giọng hát thật trầm ấm như những lời tâm sự chân tình, dễ gây cảm xúc bằng lối diễn tả với tất cả chiều sâu của tâm hồn.

     Được biết sau đó nhạc sĩ rời Đà Lạt về Sài Gòn theo học tại trường Quốc Gia Hành Chánh và đại học Luật Khoa. Có bằng cử nhân Luật. Cựu biên tập viên đài phát thanh VOF. Vượt biển rời Việt Nam vào tháng 10 năm 1980. Cư ngụ tại Portland, Oregon Hoa Kỳ. 

     Trong thời gian lưu lại Việt Nam trước khi vượt biển đã sáng tác thêm bài “Mắt lệ cho người”, “Trên tháng ngày đã qua” v.v… sau này được phổ biến tại hải ngoại và rất nổi tiếng.

     Nội dung bản “Bây giờ tháng mấy” của TỪ CÔNG PHỤNG:
     “Bây giờ tháng mấy rồi hỡi em? Lênh đênh ngàn mây trôi êm đềm. Chiều nay nếu em đừng hờn dỗi. Cách nhau một lần thôi. Tâm hồn mình đâu lẻ loi.
     Bây giờ tháng mấy rồi hỡi em? Anh đi tìm màu hoa em cài. Chiều nay nhớ em rồi và nhớ. Áo em đẹp màu thơ. Môi tràn đầy ước mơ.
     Mai đây anh đưa em đi về. Mưa giăng chiều nắng tà. Cho buốt lạnh chúng mình. Em ơi! Thôi đừng hờn anh nữa, nhìn nhau buồn vời vợi, để mùa Đông buốt giá bờ vai mềm.
     Bây giờ tháng mấy rồi hỡi em? Anh đi tìm mùa Xuân trên đời. Mùa Đông chết đi rồi mùa Xuân, mắt em đẹp trời sao, cho mình thương nhớ nhau.” 

     Ở Đà Lạt, với khí hậu ôn đới thích hợp cho sinh hoạt trí thức, học sinh có thể học hết bậc trung học. Đầu thập niên 1950, thị trấn Đà Lạt là “Hoàng Triều cương thổ” và chịu ảnh hưởng nặng nề của nền giáo dục của chính phủ Bảo Hộ Pháp nên có các tư thục dạy theo chương trình Pháp là các trường Petit Lycée, trường Grand Lycée (tức là Lycée Yersin) và trường Couvent des Oiseaux.

     Trường Lycée Yersin, khánh thành năm 1935, được đặt thống thuộc trực tiếp với Bộ Giáo Dục của nước Pháp. Kiến trúc độc đáo với dáng dài uốn cong hình vòng cung, ôm lấy một khoảng sân rộng. Một đầu của tòa nhà có tháp chuông cao vút, mái đứng bốn cạnh lợp bằng đá phiến màu đen, chở từ Pháp sang. Nét thẳng đứng và mái đá đen của tòa tháp đối lập với nét cong và màu gạch đỏ của tường nhà cho người ta một cảm giác vừa mạnh mẽ lại vừa mềm mại, uyển chuyển. Dáng cong của tòa nhà là hình ảnh một cuốn sách mở ra, còn ngọn tháp thẳng đứng tượng trưng cho ngòi bút. Từ nhiều vị trí quan sát, người ta có thể nhìn thấy ngọn tháp của Trường khắc họa những đường nét thật nổi bật lên bầu trời Đà Lạt. 
        
     TRẦN NGỌC TOÀN cho biết một số chi tiết về trường này:
     “Con em của dân Pháp thuộc địa và công chức Pháp đã gửi lên đây ở nội trú theo học cùng với các gia đình người Việt giàu có hoặc làm việc cho Pháp. Ngoài ra còn có một số ít người Thượng của các sắc tộc trên Cao Nguyên được tuyển chọn cho vào học miễn phí trong kế hoạch lâu dài cho cuộc thống trị…
     Nơi này cũng thu hút nhiều nhà trí thức của Pháp muốn thay đổi không khí tìm đến dưới hình thức dạy học như thi sĩ Jean O’ Neil còn lăng mộ nằm sau lưng Nhà Thờ của địa phận Đức Bà “Domaine de Marie”…  

     Còn TRƯƠNG TOÀN nói về trường Lycée Yersin như sau:
     “Ai xa Đà Lạt mà không nhớ? Về phần tôi, tôi nhớ Đà Lạt da diết. Đà Lạt là nơi ấp ủ bao nhiêu kỷ niệm tuổi học trò. Tôi nhớ chuyện cũ, thầy xưa. 
     Mái trường tôi học gần suốt thập niên 50 mang tên Lycée Yersin. Hình dáng cong cong, lả lướt. Mái lợp đá đen. Lầu chuông cao vút. Trường đẹp. Nhưng những nữ sinh học ở đó còn đẹp hơn.
     Tôi còn nhớ mỗi sáng, có hôm trời rất lạnh, tôi cố gắng đạp xe đến trường sớm để chờ chuyến xe buýt (chúng tôi gọi là harem mobile: hậu cung di động) chở nữ sinh nội trú từ trường Petit Lycée sang. Xe ngừng gần phòng giáo sư. Từng cô, từng cô, thướt tha bước từ xe buýt xuống. Rồi tỏa ra khắp các ngả đường dẫn đến sân chơi, lớp học. Trông như đàn bướm, muôn màu muôn sắc. Các cô biết có chúng tôi đang ngắm nên điệu chết được. Uốn éo, e ấp, đẹp não nùng. Chúng tôi được dịp bình phẩm từng cô một, nói cười thỏa thích. Rồi vào lớp với niềm vui rộn trong lòng.”        

     NGUYỄN CÚC kể chuyện về những buổi đầu thành lập trường Couvent Des Oiseaux:
     “Cách xa vạn trùng dương, nhưng thôi thúc theo tiếng gọi thiêng liêng, ôm ấp sứ mệnh giáo dục gói gắm thêm với cuộc sống tu trì, đạo đời cùng nhau chia xẻ trách nhiệm và bổn phận, chuyện dài 12 nữ tu Congrégation Notre Dame. Lần đầu tiên đến Việt Nam, chân yếu tay mềm nhưng tấm lòng rộng mở, đức tin vững vàng mạnh mẽ. Rời bỏ quê hương, tạm biệt nhà Dòng Verneuil, các nữ tu lên đường hướng về Đà Lạt như vừa nhận lãnh ơn thiên triệu. Họ đến đây lập Dòng, mở trường học, góp phần truyền bá kiến thức và ngôn ngữ Tây phương đồng thời học hỏi, cảm thông hòa điệu với văn hóa Đông Phương…
     Đầu tháng 9 năm 1935, tại nhà Dòng Verneuil, sau lễ tạ ơn long trọng là giờ phút tiễn đưa đoàn nữ tu 12 người cùng với Mẹ bề trên St Thomas d'Aquin lên đường. Đến Sài Gòn cuối tháng 9, mấy ngày sau (3-10-1935) đoàn người đã có mặt đầy đủ ở Đà Lạt, kết thúc chuyến đi như kết thúc câu chuyện thần tiên. Tất cả đều được sắp đặt sẵn sàng, chu đáo từ nơi ăn chốn ở.”

     NGUYỄN CÚC kể tiếp về những ngày sau đó:
     “…ngày đi thăm phong cảnh Đà Lạt và các buôn Thượng: Chủ khách đều bỡ ngỡ lạ lùng như nhau, từ hai phương trời xa lạ cả hai đều mới gặp nhau lần đầu. Các nữ tu đồng phục nhà Dòng, che kín bít bùng từ đầu đến chân, trong lúc đồng bào Thượng cao nguyên Lâm Viên cởi mở giản dị trong y phục Vườn Địa Đàng.
     Đợi thêm chuyến đi thứ hai với 9 nữ tu, tháng 3 năm 1936, trường Couvent des Oiseaux mới mở cửa đón tiếp đợt đầu 25 nữ sinh nội trú. Kể từ buổi lễ đặt viên đá xây cất Dòng Chim, tháng 10 năm 1935, gần nửa năm sau một phần cơ sở trường ốc mới làm xong, 2 dãy phòng học và ký túc xá nữ sinh. Ngày 26-10-1936, trường làm lễ khai giảng chính thức với 110 nữ sinh, và năm sau, năm sau nữa, lần hồi lên đến 370 nữ sinh nội trú. Mỗi năm thêm lớp thêm học trò, đầu niên khóa 1940-1941 có lớp 3e và mấy năm sau, lớp Tú Tài Triết bắt đầu được giảng dạy.
     Trừ giai đoạn khó khăn gần 2 năm kể từ niên khóa 1944-1945, nhà trường trở lại với công việc giáo dục từ đó về sau đều đặn và phát triển. Năm 1967, Couvent des Oiseaux hoàn tất chương trình Tú Tài Việt Nam khởi sự từ năm 1963 và năm sau (1968) hai lớp cuối cùng chương trình Pháp (1ère, Terminale) chuyển về trường Regina Mundi Saigon.”
   
     CHRISTIANE ĐINH BẠCH NGA nói về kỷ niệm với ngôi trường xưa Couvent des Oiseaux:
     “Trong việc thành lập trường, theo lời các Mẹ, Nam Phương hoàng hậu đã hết lòng giúp đỡ cùng bảo trợ tinh thần nhà trường bởi lẽ hồi còn du học ở Pháp, nữ hoàng cũng là một “Couventine”. Gần 20 năm sau, tôi mới vào học. Trường lúc này nổi tiếng khắp nơi, từ Huế vô Sài Gòn ra tới Hà Nội…
     Trường Couvent des Oiseaux nằm trên ngọn đồi gần suối Cam Ly. Có hai lối đi đến trường. Nếu đi bộ, đến gần phải leo dốc, qua nhiều bậc tầng cấp mới đến sân bên hông, nơi có bãi tập thể dục và sân chơi. Đi xe hơi, khỏe hơn, mau hơn. Ai muốn đi, lên xe liền cho kịp giờ! Từ phố chợ, theo đường Duy Tân, qua Nhà Đèn, rẽ tay mặt đường Huyền Trân Công Chúa, con đường nhiều biệt thự kiểu Pháp. Phía tay phải con đường xinh xinh này, gần cổng trường nhìn thấy ngay một biệt thự có tấm bảng ghi đúng sáu nốt nhạc Do-mi-si-la-do-ré, được hiểu là Domicile adoré. Lời thơ nốt nhạc đi liền, chủ nhân biệt thự “mến yêu quá cỡ” này chắc hẳn là người thích văn nghệ đờn ca xướng hát quanh năm.
     Hết đường Huyền Trân Công Chúa, rẽ trái, lái xe bọc theo chân đồi chưa đến nửa vòng, tới nơi rồi đó! Cổng trường thoang thoảng hương thơm Mimosa và hăng hắc mùi nhựa thông, mấy gốc cổ thụ già “cành lá im như đã lặng chìm” từ thuở mô-mô chưa có trường Couvent des Oiseaux. Sân trường rộng đủ chỗ cho vài chục chiếc xe đến đón nữ sinh nội trú mỗi chủ nhật đầu tháng, ngày sổ lồng của đàn chim biết nói ngoan ngoãn dưới bóng mẹ hiền quanh năm ngày tháng nhìn tới nhìn lui chỉ thấy đồi thông vi vu gió lộng. Được ra ngoài, các nàng tha hồ tung tăng ngắm cảnh nơi này nơi nọ, ghé thăm mấy tiệm phở, tiệm kem, vui vẻ hơn vào Ciné Eden xem Anthony Perkins, Audrey Hepburn…
     Nội cả các trường nữ học thị xã Dalat Trường Chim đặc biệt nhất về đồng phục. Các cô bé, váy xanh đậm, sơ mi trắng ba ngày đầu tuần, mấy ngày kế tiếp sơ mi ca rô màu hồng. Nữ sinh các lớp trên, cũng thứ tự như vậy, váy xanh đậm với sơ mi trắng hay màu xanh da trời. Lên 3e, học trò được phép mặc áo dài. Bọn chúng tôi vì vậy cứ mong cho mau tối mau sáng kịp lên lớp trên để mặc “tunique” (áo dài). Đẹp hơn, thướt tha hơn tuy rằng suốt tuần lễ tới lui chỉ có một màu xanh dương áo dài. Có lẽ vì màu xanh trùng điệp thường thấy ngoài đường phố, trước sân trường nên thay vì gọi Couvent des Oiseaux, mấy chàng trai tinh nghịch nào đó bên Lycée đã đổi tên, Couvent des Corbeaux.
     Gặp ngày lễ lớn, học sinh được phép mặc áo dài trắng và ăn cơm theo thực đơn Việt nam; vài món ăn quen thuộc như Phở, Chả Giò, Bánh Cuốn... Nhưng than ôi ăn cơm Việt Nam với dao, muỗng, nĩa và không có nước mắm! Lạc vần, lạc điệu, nhưng không lạt miệng, ăn vẫn ngon! Hương thơm món ăn, gia vị cay nồng tiêu ớt không những chui vào dạ dày, còn tỏa rộng lên đôi mắt, có khi đầm đìa ướt át tưởng chừng như nhớ nhung ai đó “mưa sa giọt nhỏ, giọt ngừng”…
     Trở lại đồng phục với các tablier. Lớn hay nhỏ, mặc “đầm”, học sinh phải mang thêm cái tablier bằng vải ca-rô; các em nhỏ màu xanh da trời, các chị lớn màu xanh đậm. Theo đúng nghĩa và công dụng, chỉ mặc tablier lúc làm việc… Khí hậu Đà Lạt mát lạnh quanh năm, mỗi tuần hai lần có giờ tập thể dục ngoài trời; lại đồng phục, quần phồng ngắn, áo cánh sát nách… Xong phần thể dục, đến các môn thể thao như bóng chuyền, bóng rổ, bóng chày.
     Hình ảnh gợi nhớ đã đành, âm thanh cũng đưa mình về quá khứ. Có lẽ Couvent des Oiseaux là nơi duy nhất dùng tiếng chuông thay lời gọi… Mấy chục năm đã trôi qua, mỗi khi chợt nghe tiếng chuông đâu đó ngân lên, cứ tưởng như từ Đức Bà Lâm Viên vọng lại.”

(Trích: “ĐÀ LẠT NGÀY THÁNG CŨ”
Soạn giả: LS. Ngô Tằng Giao)

1.dalat.jpg - 117.83 Kb

Bạn đang theo dõi trang: Đà Lạt Ngày Tháng Cũ Thành Phố Văn Hoá _ (Đà Lạt Ngày Tháng Cũ_#26)