Chuông Vọng Trần Gian _ (Đà Lạt Ngày Tháng Cũ_#27)

  • PDF

1.linhson5.jpg - 32.93 Kb

CHUÔNG VỌNG TRẦN GIAN

     Đà Lạt có 12 tôn giáo và tín ngưỡng khác nhau. Đông nhất là Phật Giáo, Thiên Chúa Giáo, Tin Lành và Cao Đài.
     - Thiên Chúa Giáo: Theo bước chân của Linh Mục Robert, quản lý Hội Thừa Sai Paris tại Viễn Đông, đã tháp tùng đợt thám hiểm sau cùng với Bác Sĩ Yersin, Thiên Chúa Giáo đã hiện diện rất sớm trên đất Đà Lạt, với những cơ sở đồ sộ, những công trình kiến trúc đẹp mắt: Nhà thờ Chánh Tòa, Dòng Chúa Cứu Thế, Franciscaine, Domaine de Marie, Giáo Hoàng Học Viện...
     Sau đợt di dân từ miền Bắc 1954, Thiên Chúa Giáo Đà Lạt đã lớn mạnh - Gồm có 38 dòng tu (20 dòng tu nữ, 18 dòng tu nam). Một đội ngũ trí thức đáng kể: 100 trí thức tu sĩ có trình độ thần học cao cấp - Đào tạo ở Ý, Pháp, Anh, Đức. Những cành hoa trong trắng bừng hương bác ái dưới giáo đường Nhà Thờ Đà Lạt.
     - Tin Lành: Từ năm 1929, thông qua những Mục Sư người Mỹ, đạo Tin Lành đã bắt đầu hoạt động ở vùng dân tộc ít người. Những nhà truyền giáo Tin Lành đã góp phần canh tân xã hội như dạy chữ dân tộc thiểu số được Latin hóa, cải cách phong tục tập quán, phát triển âm nhạc Tây phương. Trong những năm 1930, tại Đà Lạt đã bắt đầu có những Hội Thánh Tin Lành hoạt động.
     - Cao Đài: Bao gồm tín đồ trung niên nhiều hơn thanh thiếu niên. Cao Đài gồm có hai hệ phái: Tây Ninh và Bến Tre.
     - Phật Giáo: có 4 hệ phái là Ấn Quang, Tịnh Độ, Khất Sĩ và Hoa Tông. Đà Lạt có những chùa lớn như chùa Linh Sơn, chùa Sư Nữ Linh Phong, chùa Tàu...

     Những người Đà Lạt cư ngụ tại đường Nguyễn Đình Chiểu, ấp Cô Giang, khoảng ngay giữa một nhà thờ và một ngôi chùa, đó là chùa Trúc Lâm, bên tai luôn vẳng nghe tiếng chuông hai nơi vang vọng cõi trần gian. TÂM MINH cảm hứng viết bài “Tiếng chuông”:

“Chuông nhà thờ Cô Giang
Sáng đổ hồi reo vang
Nhạc vui theo chân Chúa
Dương thế được bình an.
Chuông khuya chùa Trúc Lâm
Ngân nga xua bụi trần
Tan màn đêm ảm đạm
Bừng lên ánh hào quang.”

     Ngôi giáo đường nhỏ bé trên nằm ngay đầu đường Nguyễn Đường Chiểu cũng lưu lại kỷ niệm một mùa Giáng Sinh với hoa anh đào khoe sắc thắm trong lòng NHẤT TUẤN. Nhà thơ viết bài “Nhà thờ đường Cô Giang”  với lời ghi chú “còn nhớ mãi ngôi giáo đường yêu dấu”:                              

“Thêm Xuân nữa lại về
Giữa một trời tuyết lạnh
Nhiều đêm dài xa quê
Tìm hoài trong ảo ảnh

Những kỷ niệm thần tiên
Bây giờ anh vẫn nhớ
Nhà Thờ Đường Cô Giang
Chúa Nhật mình đến đó

Đa lạt vào Giáng Sinh
Anh-Đào reo mở hội
Tan lễ  em và anh
Đường hoa về chung lối

Họ thấy em hôn anh
Vội làm dấu Thánh Giá
Các sơ… và sư huynh
Muốn là thiên thần cả!

Em hỏi:
Họ có yêu ??
Anh đáp:
Khi khấn hứa,
Họ xin yêu rất nhiều
Yêu hết… con cái Chúa

Anh cố giữ niềm tin
Của tuổi trẻ mơ mộng
Nơi quê hương ngàn trùng
Xin em đừng tuyệt vọng

Vì sẽ có một ngày
Giáo đường xưa lại đến
Quỳ dưới  trời tuyết bay
Thiết tha anh cầu nguyện.”
    

     Nhà thờ lớn nhất thành phố Đà Lạt ở gần khách sạn Palace được gọi là nhà thờ “CHÁNH TÒA”, hay còn cái tên dân gian là nhà thờ “CON GÀ” vì trên đỉnh tháp chuông có tượng một con gà lớn. Nhà thờ được xây dựng từ 1931 đến 1942, là một trong những công trình kiến trúc tiêu biểu và cổ xưa nhất của Đà Lạt, có chiều dài 65m, chiều rộng 14m và cao 47m. Với độ cao đó, tháp chuông của nhà thờ có thể được nhìn thấy từ nhiều nơi trong thành phố. Phần phía trên của tường được lắp 70 tấm kính nhiều mầu sắc, thể hiện một nét trong kiến trúc nhà thờ châu Âu thời Trung cổ.

181540_10150108277356705_650211704_6465752_435585_n.jpg - 87.85 Kb

     Ngoài ra, ở Đà Lạt còn rất nhiều nhà thờ khác, nhỏ hơn, trong đó có Domaine de Marie, nhà thờ Cam Ly v.v… Vào dịp Giáng Sinh hằng năm, nhà thờ là nơi tập trung rất nhiều người cả trong đạo lẫn ngoài đạo đến tham dự lễ thật đông vui.

     Nhà thờ DOMAINE DE MARIE (Lãnh Địa Đức Bà) là nơi tu hành của các bà sơ, chuyên làm bánh kẹo và trồng các loại hoa để bán. Bà vợ của toàn quyền Đông Dương Jean Decoux tên là Suzanna Humbert là bạn của hoàng hậu Nam Phương. Bà là người đã đóng góp nhiều tiền bạc cho nhà thờ nói trên. Nhân một chuyến lên thăm hoàng hậu Nam Phương bà Suzanne đã thiệt mạng trong một tai nạn xe hơi trên quãng đường đi lên Đà Lạt. Thi hài bà được chôn cất ngay nơi phía sau nhà thờ Domaine.

     NGUYỄN THỊ NGỌC DUNG rời Sài Gòn lên ghé thăm thành phố sương mù, ôm mối tâm sự riêng, lang thang khắp nẻo đồi cao lũng thấp. Con đường mang tên Hoa Hồng gợi kỷ niệm buồn đến nhỏ lệ. Tiếng chuông nhà thờ Đà Lạt vang vọng không trung, theo với bước chân khách du, mãi còn âm hưởng trong lòng người cô quạnh để rồi được thể hiện thành những vần thơ sầu muộn trong bài “Đường chiều Đà Lạt”:

“Xao xuyến thư về tên cố nhân
Nét quen ngày ấy vẫn ân cần
Anh nguyền xin giữ lòng trung ước
Đợi đến khi em đủ tuổi xuân.

Xa vắng lòng anh thung lũng sầu
Tim em nhỏ bé, lớn chưa mau
Ngây thơ, tội lỗi trăm điều sợ
Đừng nói thương nhau, đừng đợi nhau.

Hồi chuông Cứu Thế vọng đìu hiu
Gác lạnh cheo leo đỉnh cô liêu
Tay viết nét gầy câu giã biệt
Chẳng thề, chẳng hẹn nói thương yêu.

Đồi thông gió hú mãi không thôi
Ôm gối lệ hờn lã chã rơi
Đà Lạt đêm trường đong thổn thức
Khăn hoa thấm ướt giọt đầy vơi.

Dốc xuống buồn lên sương tím bay
Đường Hoa Hồng bước lịm mi cay
Âm thầm mong ước người không hẹn
Thương nhớ thôi đành gửi cỏ cây.

Ngăn cách muôn trùng bóng núi xanh
Hững hờ mây khói phủ mong manh
Thiên Thu e ấp trang trinh nữ
Muốn hóa thân nàng chờ đợi anh.

Nhạt nhòa chôn liệm một tình yêu
Mộng thuở ban đầu có bấy nhiêu
Tha thứ người em khờ dại ấy
Thư anh tan tác thả đường chiều.”

     LỆ KHÁNH với tâm trạng buồn đau, với trái tim thổn thức vì tình, cũng từng ghé nhà thờ và viết bài thơ “Tiếng kinh chiều”:

“Chiều mùa thu heo may
Gió vàng lên ngọn cỏ
Nắng dài vương chân mây
Riêng mình em đứng đó

Cửa giáo đường còn mở
Một linh hồn bơ vơ
Chúa ơi đời con khổ
Từ vương nghiệp làm thơ

Em quỳ bên tượng chúa
Chắp hai tay nguyện cầu
Từng hồi kinh nho nhỏ
Là những lời thương đau

Chiều Đà Lạt lành lạnh
Như hồn em giá băng
Giáo đường sao vắng lặng
Tình mình sao cách ngăn

Từng hồi kinh nối tiếp
Từng lời xin Chúa ơi
Con yêu chàng tha thiết
Chàng yêu con trọn đời

Vòng tay Chúa hiền từ
Không ôm tròn hai đứa
Nên em còn làm thơ
Khóc tình yêu dang dở.”

     Bên cạnh những cành hoa tươi đẹp nết na của Đà Lạt còn có những cành Hoa Đàm Vô Ưu lung linh nở hương đạo trước Phật Đài cổ kính. Đó là những ngôi chùa với lối kiến trúc cổ kính đã từ bao đời nay ấp ủ tình dân tộc. 

     Trong số đó trước hết phải kể đến chùa LINH SƠN. Chùa  tọa lạc trên một ngọn đồi giữa vườn trà xanh, cách trung tâm thành phố gần một cây số về phía Tây Bắc. Chùa được dựng vào năm 1936 và hoàn thành vào năm 1940. Chùa là một danh lam thắng cảnh bậc nhất của xứ hoa đào. 

     Chùa LINH SƠN do ông Võ Đình Dung đứng ra điều khiển kỹ thuật và ông Nguyễn Văn Tiến cùng với công đức của thập phương bá tánh. Người dân Đà Lạt kể cho nhau nghe về chuyện Ông Võ Đình Dung: “Ông đến Đà Lạt năm 1930 với hai bàn tay trắng, qua một thời gian ông đã trở thành một nhà tư sản, giàu có bậc nhất Đà Lạt. Ông có trên 70 ngôi nhà lớn nhỏ tại trung tâm thành phố cho thuê và sang nhượng lại với giá rẻ. Trước kia ông là một nhà thầu khoán tên tuổi, ông đã từng thầu cất rất nhiều công trình ở Đà Lạt: dinh Bảo Đại, ga xe lửa... Tuy giàu có như vậy nhưng đời sống của ông là đời sống rất mực thanh đạm của một cư sĩ, tu tại gia, làm nhiều việc nhân đức. Khu Mả Thánh, phần nghĩa địa với diện tích rất rộng lớn cũng do ông cúng dường cho âm linh của thành phố. Mả Thánh là một nghĩa trang Phật Giáo được thành lập năm 1938 trên một quả đồi gần cây số 4, trên đường đi Suối Vàng.”  

     Chùa LINH SƠN với lối kiến trúc Á Đông, giản dị và hài hòa, hai mái xuôi nghiêng, hơi cong ở phía cuối trên có hai con rồng đối xứng uốn khúc mềm mại giữa nền trời cao thường có mây trắng bay. Bên cạnh có ngôi tháp ba tầng hình bát giác và cách đó không xa là ngôi trường Phật học tạo thêm vẻ mỹ quan cho chùa.  

     Thông thường cổng chùa thường xây theo cổng tam quan. Song cổng chùa Linh Sơn chỉ xây hai vách cao 4m, cách nhau 5m có mái lợp, bậc cấp được xây bằng đá, cửa cổng có thể hiến cho du khách một chỗ tạm nghỉ chân mà không sợ mưa tuôn nắng dọi.   

     Đường vào chùa được dẫn lên nhiều cấp, hai bờ đường là hai hàng cây thông, bạch đàn, sao, cao vút quanh năm thì thào với gió núi mây ngàn. Đêm về những ngọn đèn bên ngoài tỏa sáng mông lung trong sương lạnh điểm tiếng chuông ngân nga vang vọng làm cho cảnh trí Linh Sơn thêm phần trầm mặc, u nhàn. 

     Trên lối đi trước sân chùa cách cổng chính 30m có dựng một bức tương Quán Thế Âm Bồ Tát màu trắng đứng trên đài sen cao, khói hương nghi ngút, nơi chiêm bái của tín đồ và du khách vì tinh thần cứu khổ độ sinh là bản nguyện của Ngài. 

     Một con đường lát đá, tráng nhựa là đường dành cho xe cộ từ ngoài vào bọc quanh sân chùa, chạy qua sau lưng bức tượng và trước sân chùa rồi rẽ phải lên đến sân của cánh hậu tòa viện. Bên phải phần cuối con đường này là giả viên Lâm Tỳ Ni. Nơi đây là một khu xinh đẹp được trang trí bằng các giả sơn rất nghệ thuật được trồng các thảo mộc quý. Giữa đám xanh của cây cỏ là một cái ao nhân tạo bên trong có hoa súng luôn luôn khoe sắc và cá vàng bơi lội thảnh thơi.

     Qua sân cỏ là đường dẫn đến cầu thang có mười ba bực lên đến hành lang Phật đường. Hai bên cầu thang có bể nước trong đó nhô lên hòn non bộ có các cây kiểng gợi cảnh thiên nhiên. Xuôi theo cầu thang là cặp Rồng lớn há miệng được điêu khắc một cách nghệ thuật làm vị song thần gìn giữ ngôi chùa.

     Trên điện Phật thờ tượng đức Thích Ca Mâu Ni bằng đồng xanh đang tham thiền nhập định trên một tòa sen, nặng 1.250 kg, được đúc năm 1952.

     Lầu chuông và lầu trống được bố trí cách nhau 12m trước Phật đường. Quả chuông đúc vào năm 1950, cao 1m80 cân nặng 40kg do các nghệ nhân “Phường Đúc Huế” tạo thành. Phía trái là ngôi tháp ba tầng đứng trên một nền cao 14m, hình bát giác góp phần vẻ tôn nghiêm, mỹ thuật cho chùa.
   
     Trước tiền đường, trên các cột có treo nhiều cặp câu đối đượm ngát Thiền vị, như:
     “Lâm Viên tại xứ tác Kỳ viên, Thái tử thọ, trưởng giả kim. Đương Niệm hiện thành, cổ kim như thị.
     Đa Lạt bổn lai chân cực lạc, thất trùng lâu, bát đức thủy.
Duy tâm nhược ngộ, bỉ thử hà phân.”
     (Lâm viên ngay đấy chính kỳ viên, Thái tử dâng cây, trưởng giả hiến vàng. Một niệm tựu thành, xưa nay như thị.
     Đa Lạt xưa nay là cực lạc, lâu đài bẩy lớp, nước báu tám đức. Riêng tâm tỏ ngộ, đây đó chẳng hai.)
   
    
Và cặp câu đối:
     “Sơn sắc đạm tùy nhân nhập viện
     Tùng thanh tĩnh thính khách đàm thiền.”
     (Màu núi nhạt theo người vào viện
     Tiếng tùng im nghe khách bàn thiền)

     Chùa LINH SƠN do cố Hòa Thượng Trí Thủ khai sơn tạo dựng từ năm 1936 đến năm 1940 hoàn thành. Từ 1941 đến 1946 Trú trì là cố Hòa Thượng Thích Diệu Hoằng. Từ 1947 đến 1952 Trú trì là Hòa Thượng Thích Từ Mãn. Từ 1953 đến 1963 Trú trì là cố Hoà Thượng Thích Bích Nguyên. Từ 1964 đến 1975 và trở về sau trú trì là Hòa Thượng Thích Từ Mãn (thầy trở lại làm trú trì). Thầy Từ Mãn an nhiên thị tịch vào ngày 30 tháng 11 năm 2007 (1918-2007) và nhập tháp tại chùa Linh Sơn.

     Sư VIÊN TRÍ, xuất thân từ chùa LINH SƠN của Đà Lạt những ngày tháng cũ, sau này cảm khái viết:

“Khách trần ai viếng Linh Sơn tự
Hồn tục lâng lâng khỏi xứ phiền”

    “Không biết có tự bao giờ nhưng từ lâu hai câu thơ trên đã thôi thúc khách hành hương tìm đến Linh Sơn mỗi dịp có nhân duyên đặt chân đến xứ anh đào thưởng ngoạn.

     Hòa trong cấu trúc tự nhiên của cỏ cây, rừng núi, tọa lạc trên một dãy đồi cao cách trung tâm thành phố Đà Lạt chừng 1km, Linh Sơn là mái chùa thân thiết đối với Phật tử và du khách hành hương từ mọi miền đất nước. Chập chùng trong làn sương sớm, Linh Sơn thoáng ẩn thoáng hiện sau những hàng thông ngập nắng ban mai như một hiện thể tâm linh gợi thức những tâm hồn tìm về nguồn cội. Len lỏi trong cái lạnh buốt giá của canh khuya, tiếng chuông Linh Sơn không phải là âm thanh của Hàn Giang Tự khiến Trương Kế giật mình giữa đêm tối bao la, nhưng đã làm tỉnh thức bao tâm thế Việt Nam sau những cơn trường mộng.

     Chất liệu khiến “hồn tục lâng lâng” khi viếng “Linh Sơn tự” hẳn là hương vị giải thoát lan tỏa từ dòng nước từ bi, trí tuệ ở “đỉnh Linh Sơn” hơn 2500 năm trước. Cảm thức thoát lụy liên đới mạnh mẽ với cảm thức cội nguồn khiến thế nhân dường như không hề khởi niệm phân biệt xưa và nay. Vì rằng giây phút lìa xa ái thủ là giây phút con người tìm thấy bản lai diện mục của mình ở đấy mọi ý niệm không và thời gian đều vắng bặt. Có lẽ trong ý nghĩa như vậy mà Linh Sơn đã hiện ra không khác một Linh Sơn Ấn Độ trong lòng nhiều thế hệ Phật tử Việt Nam.”    

     Trong một đoạn khác sư VIÊN TRÍ viết tiếp:

     “…cuộc sống của Đà thành chắc chắn sẽ trở nên đơn điệu nếu tiếng chuông Linh Sơn không còn là một nét văn hóa tinh thần lưu chuyển trong mạch sống của người dân.
     Nhưng không! Chuông chùa Linh Sơn vẫn sáng tối đong đưa như tiếng hót thanh tao của chim hoàng oanh ngân vang, thẩm thấu trong mọi ngõ ngách cuộc sống của dân cư Đà Lạt; dòng nước từ bi, trí tuệ bắt nguồn từ sự chứng ngộ chân lý của đức Phật vẫn đang hiện hành giữa giòng đời sinh diệt. Ai lắng nghe được tiếng chuông giác tỉnh, ai lĩnh hội được diệu âm giải thoát này ắt hẳn sẽ cảm nhận được an lạc, hạnh phúc trong từng bước đi. Do vậy, đối với thế giới sinh diệt vô thường Linh Sơn mãi mãi là trú xứ tâm linh để thế nhân quay trở về tìm lại chân tâm, Phật tánh của mình, vì:

     Ngàn năm gót ngọc vẫn còn
     Ngàn năm mưa pháp từ non đổ về
     Ngàn năm trôi nổi bến mê
     Ngàn năm trần thế vọng về nguồn tâm."
     
     Chùa sư nữ LINH PHONG tọa lạc cách thành phố Đà Lạt khoảng 4km về hướng Đông Nam (Trại Hầm). Chùa được xây trên một đỉnh núi nhỏ cao vút ẩn hiện giữa ngàn thông vi vu lộng gió. Khởi đầu, năm 1944, chùa là một Niệm Phật Đường với vật liệu nhẹ mái tôn vách ván đơn sơ, cheo leo trên chóp núi, do Hòa Thượng Thích Bích Nguyên chủ trì.
    
     Năm 1948 đến 1962, sư bà Thích Nữ Từ Hương trùng tu và xây dựng nên Linh Phong Ni Tự, một ngôi chùa trang nghiêm, tráng lệ như ngày nay. 

     Cổng tam quan được xây bằng đá xanh, tạo nét uy nghi cho ngôi tịnh đường theo triết lý Tam Quán “Không, Giả, Trung”. Chùa (16 x 25m) chia làm năm gian kiến trúc theo kiểu những đình làng ở miền Trung. Mái kép, cong được trang trí bằng tứ linh (long, lân, quy, phụng) uốn lượn giữa gió núi mây ngàn. 

    Ở sân chùa có tôn trí tượng Bồ tát Quan Thế Âm lộ thiên. Chánh điện thờ Đức Phật A Di Đà cao 1,8m. Ở hai bên, phần trước thờ tượng Quan Thế Âm Bồ Tát và Đức Đại Thế Chí Bồ Tát bằng đồng bóng loáng, phần sau thờ Tổ và Linh.          

      Đến viếng chùa Linh Phong, du khách sẽ được gặp sư bà Từ Hương, một Ni Trưởng cao niên, tuổi ngoại thất tuần, dáng người cao nhã. Ta vẫn có thể hình dung được một người con gái nhan sắc năm xưa, tuổi vừa đôi mươi đã rời bỏ một gia đình thượng lưu giàu có để xuất gia đầu Phật, lãng quên việc đời, tu hành chánh quả. Chùa Linh Phong là một danh lam thắng cảnh của Đà Lạt. Đôi câu đối tại chùa có ghi đại ý là ai có tâm linh tỏ rạng rồi thì không còn phân biệt nam nữ nữa:

“Linh chiếu hà phân nam nữ tánh
Phong cao vô ngại sắc không tâm”

     Phía sau chùa, trên đồi có một ngôi chùa tháp nhỏ cao 3 tầng, hình lục giác. Sư bà Từ Hương đã viên tịch và an nghỉ trong tháp này. 

     Nhạc phẩm “Chùa sư nữ Linh Phong” do Nguyên Định BỬU ẤN đặt nhạc và Quảng Tuấn NGUYỄN ĐÌNH TUÂN viết lời:

     “Khoan nhặt rơi đều nhịp mõ công phu. Hoàng hôn điệp bóng chùa trong sương mù. Ẩn sắc Hương từ TỪ HƯƠNG diệu tỏa. Ni chúng chuyên cần tinh tấn đồng tu.
     Về xứ Anh Đào: về với Linh Phong. Bỗng thấy lâng lâng thanh thoát cõi lòng. Nhìn dáng chư ni hiền hòa nhân ái. Cho dẫu xa vời vẫn nhớ Linh Phong.
     Chùa Linh Phong chư ni uy nghi. Công hạnh viên toàn oai đức quang huy. Nơi sáng soi ánh vàng giải thoát. Đưa chúng sanh xa dần lầm mê. Qua bến bờ giác tâm từ bi… (í… ì…).
     Nghe gió thông reo những buổi chiều tà. Chuông chùa hòa nhịp, hòa nhịp ngân nga. Ẩn sắc Hương từ TỪ HƯƠNG diệu tỏa. Hoa Giới-Định-Huệ nở trong lục hòa…
     …Lặng lẽ thinh (i) không Linh Phong!... Linh Phong!...”

(Trích: “ĐÀ LẠT NGÀY THÁNG CŨ”
Soạn giả: LS. Ngô Tằng Giao)

1.dalat.jpg - 117.83 Kb

Bạn đang theo dõi trang: Đà Lạt Ngày Tháng Cũ Chuông Vọng Trần Gian _ (Đà Lạt Ngày Tháng Cũ_#27)