Chút Duyên Văn Nghệ & Các Dinh Thự _ (Đà Lạt Ngày Tháng Cũ_#28)

  • PDF

2.dalat12.jpg - 34.56 Kb

CHÚT DUYÊN VĂN NGHỆ

     Khi thấy Tâm Minh phải rời xa chùa, sư TÂM NGỘ tại chùa Linh Sơn cảm khái viết tặng vần thơ thay lời tiễn biệt, bài “Ra đi”:

“Ra đi để lại nàng thơ
Lộ trình thiếu hẳn giấc mơ dị thường.
Người đi cảm thấy như tuồng
Trời đất thiếu một linh hồn ngày qua.

Ra đi là nghĩa cuộc đời
Dòng sông là chảy, mây trời là bay.
Ra đi là đẹp ngày mai
Đong đầy hi vọng cho ai cho mình.
Nhà thơ mở cuộc đăng trình
Vần thơ để lại chút tình thâm giao.”

     Cũng nhân nói đến ngôi chùa Linh Sơn, người ta nhớ đến một sư tại đây. Sư cất một cái “cốc” nhỏ ngay sau chùa, bên vườn  trà. HỨA HOÀNH kể rằng:
     “Thầy là người cha Nhật mẹ Việt, sinh năm 1926. Khi Nhật vào Đông Dương, thầy bị bắt đi làm thông ngôn một thời gian. Năm 1951 thầy tốt nghiệp trung học Yersin. Trong thời gian ở chùa Linh Sơn, thầy vẫn cầu học, dịch kinh sách, và ghi danh theo học ở Viện Đại Học Đà Lạt, phân khoa văn chương và triết học. Sau đó thầy chuyên về môn văn chương Anh Mỹ, tốt nghiệp cử nhân với đề tài tiểu luận “William Faulkner” vào năm 1975!”
    
     Đó chính là sư LÊ TRUNG TRANG NISHIO. Trong thời gian sống ở Linh Sơn, giữa cảnh chùa đầy an lạc và cảnh thiên nhiên đẹp đẽ, cảnh núi rừng tịch mịch của Đà Lạt, sư NISHIO cảm hứng đặt bút viết mấy vần thơ tiếng Anh tặng Tâm Minh, “Rain”, với lời ghi chú “Ghi lại theo hướng dẫn của Nàng Thơ”, “Dalat, Jan 1988, Linh Sơn, A Sunny Noon”:

 “Rain in sunshine
and absolute silence
in the chaos of Life.”

     Sư tự dịch thành hai câu thơ đầu và TÂM MINH góp thêm tiếp hai câu cuối thành bài thơ kỷ niệm ngày cùng nhau hội ngộ:

“Nắng mưa, mưa nắng bên mương
Lặng yên tô điểm tơ vương dòng đời,
Một trưa đầy ánh mặt trời
Giữa Linh Sơn tự tuyệt vời bóng mây.”

     Một buổi đẹp trời khác, sư NISHIO lại ghi tặng mấy vần:

“Yesterday, Tomorrow,
Tomorrow and Yesterday
Human Bondage is but a Play.
Merry days flow fast
and Suffering is slow,
And all things – Pains and Happiness
are quite similar.”

     TÂM MINH lại phỏng dịch và gửi đáp lễ lại tặng sư (1-1988):

“Hôm qua rồi đến ngày mai
Ngày mai cùng với ngày dài hôm qua
Trăm năm kiếp sống người ta
Ngẫm ra mới thấy chẳng qua tấn tuồng.
Ngày vui trôi tựa thác tuôn
Đau thương chậm nhỏ giọt buồn miên man.
Mọi điều ở cõi dương gian
Khổ Đau, Hạnh Phúc vô vàn giống nhau.”

     Ít lâu sau, khi Tâm Minh phải rời Đà Lạt về Sài Gòn. Đến chào sư. Lúc chia tay sư NISHIO viết tặng mấy câu “A farewell”:

“And comes the departure of a friend.
The Muse - Poetical Intoxication as well.
A drop of Sadness hence.
Survives in Oblivion forever.”

     VIỆT TRANG chuyển dịch sang tiếng Pháp thành bài “Adieu”:

“Et s’en va un ami
Lyre aussi l’ Ivresse
Une goutte de Tristesse
Survit dans l’ Oubli.”

     TÂM MINH đáp lễ phỏng dịch ý cả hai bài thơ nói trên:

Bạn hiền tung cánh chim bay
Dìu Nàng Thơ, quyện Đắm Say theo cùng
Giọt buồn gieo nhẹ không trung
Âm vang bất diệt trong vùng Lãng Quên.”

     Một vị sư khác là sư VIÊN THỨC. Cũng từ trong khung cảnh nhà chùa sư đã cảm tác ra những vần thơ bằng tiếng Anh, đầy thiền vị, gom góp lại thành thi tập “Zen poetry”. Tạm trích một bài:

“Welcome to the Pagoda
The air becoming cooler
marking the end of a blissful day,
the sun beginning to set
The night will come and embrace the earth
And the moon temporarily takes the sun’s place,
together with the stars.”

     Nhận được sách tặng của sư, TÂM MINH lại chuyển ngữ sang thơ Việt và hồi âm để gọi là đáp lễ lòng ưu ái:

“Đón chào khách ghé thăm Chùa
Bàu trời êm dịu mát ru lòng người
Một ngày hạnh phúc qua rồi
Vầng dương sắp lặn cuối trời theo mây
Màn đêm lại sẽ ghé đây
Bao trùm vạn vật cỏ cây cõi trần
Bóng Hằng hiển lộ thay chân
Cùng muôn tinh tú, sáng ngần ánh sao.”

     Một bài thơ khác, lời thơ cũng giản dị, nhẹ nhàng thanh thoát, như phong cách ung dung tự tại của người tu sĩ Đà Lạt:

“The symphony for millenn
Played through the wonders of nature
surrounding us in Dalat.
Dalat the country of perpetual fog
And ever green everywhere on the path
And sunshine bursting through the gold lined clouds.”

     TÂM MINH cũng lại phóng tác và chuyển ngữ sang thơ Việt:

“Bản hòa tấu khúc thiên niên
Trổi vang cảnh đẹp khắp miền bao la
Quanh Đà Lạt thành phố ta
Sương mù muôn thuở giăng qua xóm làng
Màu xanh khắp nẻo thênh thang
Ánh dương nở rọi mây vàng khắp nơi.”

     Cuộc sống tha hương gơi nhớ lại biết bao kỷ niệm yêu quý với chùa xưa, thầy cũ, bạn đạo. Bao lần dạo bước quanh chùa cùng đàm đạo và xướng họa. Duyên thơ chẳng khi nào dứt… Cùng gia đình lên lễ Phật, vãn cảnh và thăm chùa nhiều lần, nhớ đến chùa xưa trong dịp Xuân về, từ nơi đất khách cô quạnh TÂM MINH viết bài: “Xuân lữ thứ” như muốn gửi gấm chút tình về chốn cũ:

“Thiên nhiên khởi sắc đón mùa sang
Lòng kẻ tha hương bỗng rộn ràng
Đất khách chẳng còn tràng pháo đỏ
Quê người dù thiếu bóng mai vàng
Chúc Xuân lời vẫn ươm tình nghĩa
Mừng Tết thơ luôn đượm ánh quang
Thoang thoảng hương trầm khơi kỷ niệm
Vẳng chuông chùa cũ tiếng còn vang.”

 hoadaodalat_34.jpg - 122.46 Kb

CÁC DINH THỰ
       
      Ngay từ 1939 Đà Lạt đã có 427 biệt thự xinh xắn, theo kiểu kiến trúc Pháp ẩn mình trong rừng thông mà du khách tới nơi đều có cảm giác như đang ở một thành phố châu Âu. Đà Lạt có ba dinh thự lộng lẫy mọi người quen gọi vắn tắt là dinh Một, dinh Hai và dinh Ba. Các dinh thự đều được thiết kế theo kiểu Pháp, lối kiến trúc cuối thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20 tại châu Âu và được xây trên những ngọn đồi thông thoai thoải ở những vị trí đẹp. 

     DINH MỘT cách trung tâm thành phố khoảng 4 cây số, nằm trên một ngọn đồi thơ mộng có độ cao 1.550m với những rừng thông bao quanh, từ ngã ba Trại Hầm đi lên. Xưa kia được gọi là biệt điện được xây dựng từ 1934. Dinh Một là một công trình kiến trúc độc đáo trong dáng vẻ cổ kính, uy nghi và tao nhã. Nguyên đây là nhà của một viên chức người Pháp tên Robert Clément Bourgery. Thấy nơi đây khá đẹp lại yên tĩnh nên chính phủ Việt Nam do Bảo Đại làm Quốc trưởng đã mua lại từ tháng 8-1949 và sửa sang toàn bộ dinh cơ này. 

    DINH HAI cách trung tâm thành phố 2 cây số, trước kia là dinh của toàn quyền Pháp, nằm trên một ngọn đồi gần ngã tư đường Nguyễn Tri Phương và Trần Hưng Đạo, khởi công năm 1933 có 25 phòng, ba năm sau mới hoàn thành. Tọa lạc trên một ngọn đồi thông rợp bóng ở độ cao 1.540m.  Đứng ở nơi đây, du khách có thể nhìn thấy hồ Xuân Hương cách xa chừng 1km thấp thoáng qua những tán lá thông. 

    DINH BA là dinh dành riêng cho vua Bảo Đại, vị vua cuối cùng của triều Nguyễn, đồng thời cũng là vị hoàng đế cuối cùng của các triều đại phong kiến Việt Nam. Dinh được bài trí của một gia đình hoàng tộc. Dinh gồm 25 phòng cũng được xây từ 1933, cách trung tâm Đà Lạt 2 cây số. Dinh nằm cuối con đường Huyền Trân Công Chúa. Dinh Ba là một tòa dinh thự vô cùng trang nhã, ẩn mình trong khung cảnh thơ mộng của một đồi thông ở độ cao 1.539m. Từ lúc xây cất xong cho đến năm 1945, dinh được gọi là Hoàng Cung Đà Lạt. Đây cũng là chỗ để hoàng đế tổ chức lễ vạn thọ (sinh nhật), tiếp tân các toàn quyền, khâm sứ, và sau này là cao ủy Pháp.

     Dinh Ba chia ra làm nhiều phòng. Trong văn phòng của hoàng đế có bức tượng hình người thật của nhà vua bằng thạch cao và một bức tượng khác nhỏ hơn của vua cha Khải Định bằng vàng. Trong phòng này cũng có ngọc tỷ và ấn tín quốc thư, quốc kỳ các nước có quan hệ ngoại giao. Phía trên lò sưởi, ngay giữa phòng là bức chân dung hoàng đế mặc triều phục, hoàng tử Bảo Long và Nam Phương hoàng hậu. Trên tầng lầu thứ hai có phòng hình bán nguyệt dành riêng cho hoàng gia họp mặt. Phòng màu vàng dành cho thái tử Bảo Long và phòng của công chúa Phương Mai. Bà Nam Phương hoàng hậu và các con cư ngụ tại đây trong suốt thời gian từ 1949 đến 1954.   

     Năm 1949 quốc trưởng Bảo Đại từ Hồng Kông trở về chấp chánh và Đà Lạt là nơi mà quốc trưởng cư ngụ nên thành phố này trở thành thủ đô hành chánh. Các chính khách rộn rịp lên xuống thường xuyên yết kiến quốc trưởng.

     Ngoài ba dinh thự nói trên có từ thời Bảo Đại, HỨA HOÀNH cho biết thêm về một dinh thự thật đặc biệt, rất xa hoa lộng lẫy,  mà người Đà Lạt thường quen gọi là “Dinh Bà Nhu”:

     “Dưới thời Đệ Nhất Cộng Hòa (1955-1963), vợ chồng ông Ngô Đình Nhu có xây một biệt thự nghỉ mát gọi là “biệt điện mùa hè” ở Đà Lạt. So với các dinh số hai, dinh số ba, biệt điện này nhỏ hơn, nhưng là một công trình kiến trúc nghệ thuật, vật liệu mua từ ngoại quốc, trang bị tối tân hơn. Lần đầu tiên, một hồ tắm kiểu vua chúa Tây phương được du nhập dành cho cấp lãnh đạo thụ hưởng. Biệt điện xây trên một ngọn đồi nhìn xuống một thung lũng thơ mộng, và đồi ấy được đặt tên là Châu Lâm (Jewel Forest)…

     Biệt điện được trang hoàng theo sở thích của từng người. Phần bà Nhu là hồ tắm bằng cẩm thạch, nước trong vắt, có máy làm nước nóng về mùa đông. Trong nhà, phòng ngủ, bếp nấu ăn đều trang bị những tiện nghi đắt tiền vì bà là một trưởng giả khó tánh. Phòng khách có đến năm lò sưởi. Tường, trần nhà, sàn nhà đều lót bằng những phiến gỗ tếch hình vuông, đánh bóng. Khu vườn hoa là của ông Ngô Đình Nhu, có trên một trăm loài hoa hiếm quý được mua từ ngoại quốc đem về…

     Biệt điện chỉ có độ 12 phòng nhưng phải xây dựng mất năm năm mới hoàn thành vì nhiều chỗ phải đập đi làm lại nhiều lần mới vừa lòng bà Nhu.”

(Trích: “ĐÀ LẠT NGÀY THÁNG CŨ”
Soạn giả: LS. Ngô Tằng Giao)

1.dalat.jpg - 117.83 Kb

Bạn đang theo dõi trang: Đà Lạt Ngày Tháng Cũ Chút Duyên Văn Nghệ & Các Dinh Thự _ (Đà Lạt Ngày Tháng Cũ_#28)