Huyền Không & Huệ Thu _ (Đà Lạt Ngày Tháng Cũ_#31)

  • PDF

2.dalat2.jpg - 463.96 Kb

TÌNH YÊU NHƯ BÓNG MÂY

      Đà Lạt xưa kia giống như một thiếu nữ tuổi xuân thì, dáng đài các, đã từng làm siêu lòng biết bao nhiêu là văn sĩ, thi sĩ, nhạc sĩ, họa sĩ và cả nhiếp ảnh gia nữa… Thật quyến rũ. Thật đắm say. Ghé thăm Đà Lạt để rồi khi chia tay nhau lại bịn rịn.

     Đà Lạt là cả một thiên đường của kỷ niệm, của hạnh phúc. Biết bao nhiêu người đã dàn trải nỗi lòng nhung nhớ về thành phố này thành những dòng hồi ký, những lời tình tự, những vần thơ lai láng, những âm thanh, điệu nhạc thánh thót, trữ tình hay những bức tranh vẽ, những tấm ảnh chụp rất nghệ thuật… Mỗi người một vẻ… Quả thật Đà Lạt mãi mãi in đậm nét trong lòng người, nhất là những người đang sống một cuộc đời xa xứ.

     KHÁNH GIANG năm 1959 viết về “Đà Lạt với du khách” đã nói:

     “Bạn có sống qua những ngày lặng lẽ u buồn ở Đà Lạt, có ngắm qua những buổi hoàng hôn nhuộm đỏ cánh đồi, có ngồi thu mình nhìn qua giọt mưa nặng trĩu rơi trên cửa kính, có dịp trầm ngâm cô độc say mê theo khói thuốc và hương vị tách cà phê phin đen ngòm, có lủi thủi dưới làn mưa bụi về đêm, có nện gót giày đều đều trên đường phố hoang vắng, có sống qua những giờ phút trống rỗng của cuộc đời và lòng có mang ít nhiều kỷ niệm đau thương, bạn mới cảm được cái “tâm hồn” sâu xa và thấm thía của Đà thành. Và lúc ấy, bạn khó lòng mà rời Đà Lạt được nữa.” 
    
     Tình yêu với Đà Lạt thật muôn vẻ. Khi thì lặng lờ như mặt nước hồ thu êm dịu hay cuồng nhiệt như những bọt nước trắng xóa của thác nước bên đèo. Khi thì giăng mắc như sương khói phủ trên khắp cánh rừng thông. Khi thì tan biến vào thinh không theo tiếng chuông chùa Linh Sơn... tiếng chuông nhà thờ Con Gà... Tình yêu vang vọng và lan đi để rồi hội nhập vào núi đồi Đà Lạt mỗi buổi sáng sớm khi mặt trời còn khuất dạng...

     Phải chăng đối với những ai đã từng sinh trưởng tại Đà Lạt, hay đã có một thời gian dài sinh sống tại đây hoặc chỉ là du khách ghé thăm thành phố trong ít ngày thời Đà Lạt của những ngày tháng cũ đã để lại trong tận cùng tâm khảm con người những niềm thương nỗi nhớ sâu đậm và thiết tha… như suối nguồn tuôn chảy. Nói hoài không hết!

     Sau đây chỉ thâu thập và ghi lại được một phần nào cái tình cảm thương yêu và nhớ nhung đó mà thôi! Mỗi người một vẻ! Tình yêu với Đà Lạt bồng bềnh như bóng mây, một thời đã hội tụ quyến luyến trên bàu trời thành phố cao nguyên thời nay lại man mác dàn trải ra khắp cả bốn phương trời… Nỗi nhớ khôn nguôi!

    
HUYỀN KHÔNG

     Chúng ta hãy nghe lời tâm sự của một tu sĩ Phật giáo, nhà sư HUYỀN KHÔNG (ghi trong một cuốn sách xuất bản tại Los Angeles, Hoa Kỳ, vào năm 1985):

     “Tôi đến Đà Lạt vào giữa năm 1953 và tôi đã giã từ Đà Lạt để đi Tokyo cũng vào giữa năm 1960. Trong những tháng năm dài đó, hồn Đà Lạt đã len vào người tôi tự bao giờ mà tôi không hay.

     Thời gian đầu tôi ở đây, Đà Lạt chẳng phải là nơi dễ dàng đến thăm. Bởi vì ngày đó, Đà Lạt là Petit Paris của người Pháp. Thành phố sạch sẽ, nhà cửa xinh xắn, dân chúng Đà Lạt ăn mặc lịch sự bốn mùa.
 
     Trung tâm thành phố Đà Lạt có một cái hồ thơ mộng rộng mênh mông, giống như lòng người mở ra để đón tiếp bạn bè từ muôn phương tới. Những buổi chiều ấm, tôi đã thường mang chiếu ra trải dưới chòm thông trên bãi cỏ xanh nằm nhìn qua hồ Đà Lạt, qua những đồi thông, qua trường Grand Lycée Yersin, qua Hotel Grand Palace, qua những chiếc Pédalo có buồm xanh buồm hồng mà nam thanh nữ tú đang đạp trên mặt hồ và qua bao nhiêu nhà cửa bên kia đồi. Cảnh trí thật đẹp, thật thơ mộng có khác gì Tây Phương đâu? Rồi nhìn lên trời xanh để thấy những tảng mây trắng từ xa lãng đãng bay về.

     Hồ Đà Lạt này, đã một thời được trang trí chung quanh bờ bằng đèn nê-ông màu xanh và màu hồng. Ánh đèn chiếu xuống nước hồ làm cho cảnh trí vốn đã thơ mộng lại càng thơ mộng thêm lên…

     Trước sân chùa Linh Sơn Đà Lạt có vài cây Mimosa, loại lá dài và loại lá tròn. Những đêm trăng hay những sáng sương mờ, tôi thường dạo quanh trước sân chùa. Hương của hoa Mimosa ngạt ngào và thơm dịu hiền. Một lần đi qua thành phố Ojai, nghe mùi hương của hoa Mimosa làm tôi nhớ về Đà Lạt… Tôi thích cảnh trí của chùa Linh Sơn, vì sân chùa là cả một vòng cung. Bao bọc vòng cung đó là những hoa những cỏ, điểm tô cho chùa Linh Sơn trở nên một thắng cảnh danh tiếng của thành phố này.

     Đà Lạt với tôi không chỉ có chùa Linh Sơn. Thỉnh thoảng tôi đến thác Cam Ly, để hít thở không khí trong lành. Hay nhiều lúc tôi về giảng Phật Pháp một tuần cho Phật Tử Khuôn Phú Hội và tại đây hàng ngày tôi đã ôm chiếu ra thác Gougah nằm đọc sách và để nhìn màu ngũ sắc qua ánh nắng mặt trời chiếu trên những bọt nước trắng xóa như bông gòn. Tôi cũng thường dừng chân trên đèo Prenn để nhìn sự hùng vĩ của núi rừng. Thỉnh thoảng, tôi cũng ra ngồi dưới gốc thông, nhìn xuống hồ Than Thở (Lac des Soupirs) lắng nghe tiếng nước chảy róc rách như có ai đang than thở với đất trời…

     Những tháng năm sống tại Nhật, thỉnh thoảng tôi có đến các thành phố Nikko, Hakkone... Hay như ở Mỹ này, tôi đã từng ngủ lại 3 đêm tại công viên Yosemite của California. Trong đêm yên lặng, tôi đã từng nghe tất cả cái xa vắng của núi rừng để nhớ về Đà Lạt, nhớ những chòm thông của thời nào rơi rắc những phấn thông vàng để rồi có câu thơ:

      “Thông xanh rải rắc phấn vàng
      Nghe chăng gió thoảng cung đàn biệt ly.”

     Thơ là thơ của ngày xưa mà sao nghe chừng như của hôm nay. Xin cảm tạ Đà Lạt nghìn trùng đã sống như chưa từng chết.”

    
HUỆ THU

     Đà Lạt là một hình ảnh bất diệt trong tận cùng tâm khảm của HUỆ THU, người con gái chào đời và lớn lên tại vùng đất này. Tiểu sử vắn tắt ghi rằng “tên thật là Bùi Thu Huệ, sinh trưởng tại Đà Lạt, định cư tại California Hoa Kỳ từ năm 1980, thích làm thơ, nuôi cá và trồng Bonsai.” 

     Ở nước ngoài HUỆ THU luôn nhớ về chốn cũ lẫn người xưa. Bài thơ “Còn ai gối đầu?” (1982) đã nói lên cái tâm trạng thương nhớ khắc khoải đó:

“Ta ở bên này bạn ở đâu?
Bao nhiêu nước chảy dưới chân cầu
Đầu non mây trắng Xuân Đà Lạt
Cuối bể mù sương chuyện Bích Câu
Một thuở thanh bình thôi đã tạm
Mười năm chinh chiến có gì lâu
Văn thơ gửi lại vài trang sách
Chẳng biết còn ai lấy gối đầu?”

     Trong tập thơ lấy tựa đề là “Đầu Non Mây Trắng” (1997) ngay phần mở đầu mang tên “Đôi lời trước sách” HUỆ THU đã bùi ngùi tâm sự:

     “Thơ là tiếng nói của lòng. Tiếng nói của lòng là tiếng nhắc của kỷ niệm. Đầu Non Mây Trắng là nỗi nhớ nhung về Đà Lạt, nơi một thời mang tên Hoàng Thị, tức Hoàng Triều Cương Thổ Thị Xã Đà Lạt - quê hương Việt Nam trong thời Pháp thuộc còn chút đó!

     Tôi sinh ra đời và lớn lên ở đây. Tuổi nhỏ và tuổi lớn. Dại khờ hay khôn ngoan, bây giờ chỉ còn là những dòng nước mắt!

     Quê hương, bao nhiêu năm qua, lung linh trong mắt người viễn xứ. Tôi cô đơn để thấy Thơ đúng là người bạn thiết, chia buồn xẻ đau hơn ba mươi năm trong đời, xin cảm ơn Thơ.

     Tôi không còn trẻ nữa. Nhưng trước khi mình mất màu hồng trên má, trước khi mình sậm nỗi buồn trên môi, tôi cắn răng nhớ về Đà Lạt một lần. Một lần là mãi mãi…

     Quê người cũng như quê nhà, tôi thầm xin bao nhiêu lần cho tôi dựa lưng ở đây tưởng về cố quận. Kỷ niệm là nước mắt của tôi tuôn ra và chính tôi lau lấy cho mình. Cảm tạ trời cho tôi được khóc.”

     Đà Lạt trong thơ HUỆ THU thật buồn, buồn đến rã rượi, buồn ngay trong những lời thơ đầu tiên:

     “Ngày sau
     chắc có bao giờ
     một người con gái
     tóc hờ hững buông
     bỏ thành
     bỏ phố lên non
     kết mây trắng lại chở buồn đi chơi...”

     Và buồn trong những đoạn thơ kế tiếp:

“Ngày xưa
Hoàng Thị buồn tênh
ai đi đâu
để mưa chìm dấu son
từ khi mưa trú trong hồn
thấy mây trên núi cứ vờn dưới chân...

Buồn đến tận những vần điệu cuối cùng:

“Ngày sau
biết có bao giờ
Nước non ngàn dặm
nối bờ đại dương
tôi về đứng lặng đầu non
chắc chi Đà Lạt... mây còn ngày xưa!”

     Trong tập thơ mang tên “Lục bát Huệ Thu” (1997) nỗi nhung nhớ Đà Lạt quả thật ngậm ngùi. Từ phương xa người con gái Đà Lạt gửi về chốn cũ những lời nghẹn ngào:

“Quê hương. Đà Lạt. Đâu rồi
câu thơ Lục Bát nghẹn lời vì sao?
hái cho ai cánh hoa đào
cầm đây thấy nắng rã màu xuân xưa
Ôi người đâu phải là thơ
mà sao nước mắt tôi chờ chực tuôn
sinh ra ở đó nên buồn
gọi tên Đà Lạt. Quê hương rã rời
Tôi rồi. Gục xuống. Ôi tôi!
câu thơ Lục Bát đem vùi chôn đi
ở đây tôi chẳng còn gì
trái tim? Giọt máu? Tình si gửi về...”

HUỆ THU cũng đã có dịp trở về thăm lại Đà Lạt và ngậm ngùi viết xuống vần thơ “Về lại
Ðà Lạt hai mươi tám năm xa” (2008):

“Tôi về Ðà Lạt nửa đêm
Vẫn con phố cũ
Vẫn đèn vàng hoe
Vẫn con dế rúc bên hè
Mấy mươi năm
Vẫn cứ nghe là buồn! ...

Tôi về Ðà Lạt đêm sương
Ðầu không nón đội
Khăn voan nhẹ hều
Gió nhè nhẹ
Gió không nhiều
Ðủ cho tôi tưởng ai dìu tôi đi...

Ôi Ðà Lạt thuở Xuân Thì
Mấy mươi năm chẳng thấy gì khác hơn
Vẫn rừng thông
Vẫn núi non
Vẫn nhà mái ngói mái tôle rêu mờ
Chỗ tôi về
Chỗ bài thơ
Của ai lén để khi chờ tôi qua
Mấy mươi năm
Vẫn đây mà!
Bài thơ còn vết tích là...
Bóng trăng!
Tôi về Ðà Lạt lâng lâng
Hồn đang tuổi xế và Xuân đã tàn
Bánh xe ngựa chẳng còn lăn
Quạnh hiu con dốc
Cỏ nằm đợi sương!
Mấy mươi năm chửa lạc đường
Mà sao đâu mất khu vườn tuổi thơ!
Không ai đứng đợi đứng chờ
Tôi vào nhà
Lẳng lặng ngờ nhà hoang...”

     HUỆ THU cũng cảm tác bài “Người về Đà Lạt, tôi về Đà Lạt”:

“Người về Đà Lạt tháng năm
Tôi về Đà Lạt hôm rằm tháng Giêng
Mỗi người đi một đường riêng
Bích Câu kỳ ngộ vô duyên, thôi đành!

Tháng Năm - nắng, núi rừng xanh
Người về chắc đứng lặng nhìn quê xưa?
Tháng Giêng - đêm có trời mưa
Tôi về nghe lạnh, không ngờ mưa Xuân

Người về, lòng có bâng khuâng,
Có ai thầm hỏi chuyện gần, chuyện xa
Tôi về, cơn gió bay qua
Tháng Giêng Đà Lạt như là không quen!

Người về có tựa Lâm Viên,
Hay ngồi dưới thác Prenn ngậm ngùi?
Tôi thì nhìn Cam Ly trôi,
Bóng mây lãng đãng, bước người lang thang...

Tôi, người - ai nhỉ hoang mang,
Năm tàn cuộc chiến cũng tàn mộng mơ
Nếu còn đây những bài thơ
Là cơn nước mắt chỉ chờ chực tuôn!

Ôi Đà Lạt! Ôi Quê Hương
Về đây chi để thấy buồn rồi xa
Trạng nguyên đỏ những mái nhà
Máu hay lệ hỡi mưa Đà Lạt mưa?”

(Trích: “ĐÀ LẠT NGÀY THÁNG CŨ”
Soạn giả: LS. Ngô Tằng Giao)

1.dalat.jpg - 117.83 Kb

Bạn đang theo dõi trang: Đà Lạt Ngày Tháng Cũ Huyền Không & Huệ Thu _ (Đà Lạt Ngày Tháng Cũ_#31)