Lê Uyên Phương, Bích Đào & Nina _ (Đà Lạt Ngày Tháng Cũ_#32)

  • PDF

6346605668traimat_thumb.jpg - 245.08 Kb

     TÌNH YÊU NHƯ BÓNG MÂY

      Đà Lạt xưa kia giống như một thiếu nữ tuổi xuân thì, dáng đài các, đã từng làm siêu lòng biết bao nhiêu là văn sĩ, thi sĩ, nhạc sĩ, họa sĩ và cả nhiếp ảnh gia nữa… Thật quyến rũ. Thật đắm say. Ghé thăm Đà Lạt để rồi khi chia tay nhau lại bịn rịn.

     Đà Lạt là cả một thiên đường của kỷ niệm, của hạnh phúc. Biết bao nhiêu người đã dàn trải nỗi lòng nhung nhớ về thành phố này thành những dòng hồi ký, những lời tình tự, những vần thơ lai láng, những âm thanh, điệu nhạc thánh thót, trữ tình hay những bức tranh vẽ, những tấm ảnh chụp rất nghệ thuật… Mỗi người một vẻ… Quả thật Đà Lạt mãi mãi in đậm nét trong lòng người, nhất là những người đang sống một cuộc đời xa xứ.

     KHÁNH GIANG năm 1959 viết về “Đà Lạt với du khách” đã nói:

     “Bạn có sống qua những ngày lặng lẽ u buồn ở Đà Lạt, có ngắm qua những buổi hoàng hôn nhuộm đỏ cánh đồi, có ngồi thu mình nhìn qua giọt mưa nặng trĩu rơi trên cửa kính, có dịp trầm ngâm cô độc say mê theo khói thuốc và hương vị tách cà phê phin đen ngòm, có lủi thủi dưới làn mưa bụi về đêm, có nện gót giày đều đều trên đường phố hoang vắng, có sống qua những giờ phút trống rỗng của cuộc đời và lòng có mang ít nhiều kỷ niệm đau thương, bạn mới cảm được cái “tâm hồn” sâu xa và thấm thía của Đà thành. Và lúc ấy, bạn khó lòng mà rời Đà Lạt được nữa.” 
    
     Tình yêu với Đà Lạt thật muôn vẻ. Khi thì lặng lờ như mặt nước hồ thu êm dịu hay cuồng nhiệt như những bọt nước trắng xóa của thác nước bên đèo. Khi thì giăng mắc như sương khói phủ trên khắp cánh rừng thông. Khi thì tan biến vào thinh không theo tiếng chuông chùa Linh Sơn... tiếng chuông nhà thờ Con Gà... Tình yêu vang vọng và lan đi để rồi hội nhập vào núi đồi Đà Lạt mỗi buổi sáng sớm khi mặt trời còn khuất dạng...

     Phải chăng đối với những ai đã từng sinh trưởng tại Đà Lạt, hay đã có một thời gian dài sinh sống tại đây hoặc chỉ là du khách ghé thăm thành phố trong ít ngày thời Đà Lạt của những ngày tháng cũ đã để lại trong tận cùng tâm khảm con người những niềm thương nỗi nhớ sâu đậm và thiết tha… như suối nguồn tuôn chảy. Nói hoài không hết!

     Sau đây chỉ thâu thập và ghi lại được một phần nào cái tình cảm thương yêu và nhớ nhung đó mà thôi! Mỗi người một vẻ! Tình yêu với Đà Lạt bồng bềnh như bóng mây, một thời đã hội tụ quyến luyến trên bàu trời thành phố cao nguyên thời nay lại man mác dàn trải ra khắp cả bốn phương trời… Nỗi nhớ khôn nguôi!

     LÊ UYÊN PHƯƠNG
     
     LÊ UYÊN PHƯƠNG là bút hiệu của người nhạc sĩ ghép từ tên chung của vợ (Lê Uyên) và tên mình (Phương). Nhạc sĩ tên thật là Lê Văn Lộc (còn có tên là Lê Minh Lập). Sinh năm 1941 tại Đà Lạt. Bắt đầu viết nhạc từ năm 1960. Từ Đà Lạt nhạc sĩ đã đem một luồng gió mới đến cho âm nhạc miền Nam vào những năm mà cuộc chiến bước vào thời kỳ khốc liệt qua các bài hát song ca cùng Lê Uyên. Vượt biên và định cư tại Hoa Kỳ, ngoài âm nhạc, nhạc sĩ còn viết văn và làm thơ. Mất tại California năm 1999.

     LÊ UYÊN PHƯƠNG nhớ lại quãng thời gian khi tuổi còn nhỏ:
     “Vài năm trước biến động mùa thu 1945, Đà Lạt vẫn còn là một vùng đồi núi hoang vu, người ta bắt đầu mở những con đường xuyên qua các vùng cảnh trí rất xinh đẹp và cho xây hàng loạt những biệt thự dọc theo các con đường đó. Gia đình chúng tôi lúc bấy giờ sinh sống nhờ vào một cửa hàng ăn nấu cơm tháng cho những công chức lục lộ, những thầy thông, thầy phán, những ông cai công chánh làm công việc mở đường đó. Nhà hàng ăn được dựng lên giữa một vùng đồi núi bao la, nhìn xuống một thung lũng đầy mai vàng, mỗi độ xuân về, những cành hoa mai nở rộ phủ kín cả một vùng đất rộng, từ trên cao nhìn xuống, đôi lúc ta có cảm tưởng như đi lạc vào thế giới thần tiên mà bà ngoại tôi đã đôi lần kể cho nghe để ru chúng tôi vào giấc ngủ.
     Hàng ngày, khi mặt trời đã lên cao và những đám sương mù đã đột ngột biến mất trên những ngọn thông xanh, mấy chị em chúng tôi dẫn nhau vào rừng để nhặt những trái thông khô nhét đầy vào chiếc bao lớn đem về để ba má tôi đốt lò nấu cơm tháng và chẻ những khúc ngọn thật nhiều dầu để đêm về đốt lên thay đèn.”

     Vào cuối ngày khi gia đình quây quần bên nhau, bà chị cả của PHƯƠNG hay mang đàn mandoline ra đánh và hát. PHƯƠNG kể lại về những rung cảm đầu đời của mình với âm nhạc và kỷ niệm với “cây đàn” đầu tiên của riêng mình lúc đó, tuy “cây đàn” này chỉ là một khúc củi mà thôi:
     “Giữa cái lạnh thấu tim của Đà Lạt và cái im lặng thiêng liêng của núi rừng, tiếng hát trong vắt của chị tôi đã đưa chúng tôi đến cái thế giới hết sức tinh khôi của xúc cảm… Với tâm hồn của một đứa bé mới bắt đầu cảm nhận cái thế giới vây quanh mình. Quả thật, tôi đã quá may mắn được sớm làm quen với những xúc cảm bùi ngùi như thế. Từ những đêm trăng đó, trong đời không còn điều gì khiến tôi ao ước hơn là có một cây đàn. Suốt ngày tôi ôm mãi một khúc củi lượm được đằng sau nhà, miệng nhái tiếng đàn mandoline của chị tôi và khảy liên tu trên khúc củi đó, chị tôi đã thấy được sự ưa thích của tôi và bà đã lượm được một miếng gỗ làm nhà đẽo thành hình một cây đàn, cột thêm một vài sợi dây cước dọc theo miếng gỗ. Đó là chiếc đàn đầu tiên của tôi trong đời. Ô đó cũng là tặng phẩm tuyệt diệu nhất mà tôi đã từng có được trong suốt cuộc đời tôi.”    
           
     PHƯƠNG viết tiếp: “Hình như trong trí nhớ của mỗi người đều có một con đường… một con đường vẫn thường trở lại trong giấc ngủ của ta và đánh thức trong ta biết bao nhiêu điều mơ mộng. Tôi đã có một con đường như thế và với một sự tình cờ kỳ thú, con đường này đã nối liền hai trái tim tuyệt vời nhất của Đà Lạt: Hồ Xuân Hương và Hồ Than Thở.”

     Trên con đường đó PHƯƠNG thường cùng một người anh họ tên là Bửu Ấn và một người bạn nữa đạp xe từ hồ Xuân Hương xuống ga Đà Lạt, qua Saint Benois rồi tiến đến hồ Than Thở rong chơi. Trong thời điểm này có một kỷ niệm khó quên về cây đàn guitare đầu tiên, một cây đàn thật, mà người bạn tên là Bảo bỏ tiền ra mua và PHƯƠNG chỉ đi theo mà thôi. PHƯƠNG viết:
     “Chiều ngày hôm sau, một buổi chiều êm ả như mọi buổi chiều ở Đà Lạt, nhưng ba đứa chúng tôi trong lòng như mở hội, tôi nghĩ đến cây đàn sắp được nhìn tận mắt, sắp được ôm tận tay mà không thể nào nén được niềm vui thích, trên con đường đi đến tiệm đàn nằm ở đầu dốc Duy Tân chúng tôi thêu dệt không biết bao nhiều điều về cây đàn sắp có. Bảo đưa cho cô chủ tiệm mấy trăm bạc và chỉ một cây đàn guitare màu vàng sẫm treo trên quầy hàng, tôi không tin được mắt mình nữa. Ôi! không có một vật gì làm tôi xao xuyến hơn cây đàn guitare màu vàng lúc đó, mọi sự đều quá tuyệt diệu đối với tôi.”  
 
     Mua đàn xong, cả nhóm mang đàn lên đồi cao. Người anh họ của PHƯƠNG là Bửu Ấn thử đàn và PHƯƠNG viết:
     “…những âm thanh của 6 sợi dây buông bỗng vang lên và từ trong không gian đầy màu xanh của cây cỏ, núi đồi, của tiếng suối reo, của hơi gió thoảng… và từ trong cái thời gian của những cây bông mai vàng, của những đêm trăng sáng, của những núi rừng lạnh lẽo xa xôi… tất cả đã khơi dậy trong trái tim tôi một niềm hạnh phúc vừa xa lạ vừa quen thuộc biết bao. Những âm thanh vụng về đó của sáu sợi dây buông đã thực sự đánh thức những hoài bão trong tôi, những âm thanh đó đã thực sự giúp tôi tìm thấy con đường của mình…”         
   
     Một ngày khác, buổi chiều, khi ngồi trên đồi Đà Lạt bất ngờ nghe được những âm thanh phát ra từ cái loa phóng thanh của hội chợ gần đó PHƯƠNG viết:
     “Ôi! Hạnh phúc biết bao, con người đã tạo nên được những âm thanh kỳ diệu như thế. Từ đó, tôi bắt đầu có thói quen nhận thức thế giới chung quanh tôi qua cái “nghe” của những âm thanh của buổi chiều hôm đó. Tôi nghe bầu trời, tôi nghe cây cỏ, núi đồi, tôi nghe xúc động trong tôi, tôi nghe xúc động trong người cùng lúc với những gì tôi nhìn thấy chúng.”

     Vài năm sau khi dọn nhà ra ở trên một con đường gần Viện Đại Học PHƯƠNG thường được một người bạn trẻ nhà hàng xóm rủ chui hàng rào qua nghe nhạc phát ra từ một cái radio vặn nhỏ âm thanh. PHƯƠNG ghi lại tâm tình của mình:
     “Nhạc Jazz đã đến với tôi trong cái tiếng thì thầm kỳ lạ của chiếc máy, trong khi tim tôi muốn bứt tung ra dưới cái sức ép mãnh liệt của cảm xúc trong tôi… Điều tôi mê say là những tiết điệu của nó, tiết điệu nhịp nhàng của trái tim con người bên cạnh những buông thả của hơi thở, của cảm xúc con người thể hiện qua tiếng kèn đồng nóng bỏng…
     Thời gian qua, đã trăm ngàn lần tôi được nghe mọi loại âm nhạc của loài người, từ một chiếc cassette rẻ tiền cho đến một giàn máy vô cùng đắt giá, tôi đã dự những buổi hòa nhạc với vài chục người cho đến những buổi hòa nhạc với hàng chục ngàn khán giả, tôi đã đi khắp nơi, đã nghe mọi loại nhạc trong mọi khung cảnh trên mặt đất này. Nhưng đôi môi nóng bỏng của âm nhạc đã hôn lên con tim tôi trong những ngày thơ ấu ở cái vùng đất kỳ diệu xa xôi đó, quả thật đã như những con dấu in đậm nét trên định mệnh tôi.”

     Tại nước ngoài về sau này LÊ UYÊN PHƯƠNG viết một tập truyện và tùy bút với tiêu đề “Không có mây trên thành phố Los Angeles”. Một lúc nào đó, nhìn ra ngoài ô cửa, nhạc sĩ đã trông thấy bầu trời không gợn một chút mây nơi thành phố mình hiện đang sống, thật khác hẳn với Đà Lạt, cái “thành phố nhỏ nhoi đầy mây trắng và sương mù” rất xa xôi trong trí tưởng của mình. Cái thành phố đầy ắp kỷ niệm ấy vẫn luôn luôn ở một góc nào đó trong trái tim nhạc sĩ… Trong những dòng chữ viết xuống luôn luôn thấp thoáng những nỗi niềm hoài niệm quá khứ:
     “Lúc đó hắn đang nhìn lên bầu trời của thành phố Los Angeles và chợt nhận ra là chưa bao giờ hắn nhìn thấy những đám mây trắng bay lượn trên đó như hắn đã luôn luôn nhìn thấy những đám mây trắng bay lượn trên thành phố nhỏ thân thuộc xa xôi của hắn...”
     Đó là thành phố với “những quán cà phê, những vũ trường, những thung lũng, những hồ, những đồi, những thác, những con đường dốc, những hàng thông xanh, những cánh đồng đầy hoa vàng, những con đường ngoằn ngoèo len lỏi giữa các biệt thự yên lặng, bí mật, trữ tình”. Đó chính là cái “thành phố đầy mây trắng và sương mù của hơn hai mươi năm về trước”.
     PHƯƠNG tâm sự:
     “… không thể nào quên được những đêm thật tuyệt vời của Đà Lạt vào những năm của thập niên 60. Chúng tôi, như phần đông những người trẻ lúc đó, thường hay la cà khắp các quán cà phê ở Đà Lạt, nhất là cà phê Tùng gần chợ Hoà Bình. Cái phòng vuông vức với những hàng ghế liền bọc plastic đỏ, những chiếc bàn thật thấp, trên tường có một bức tranh lớn vẽ một người chơi guitar theo lối nửa lập thể, nửa ấn tượng, và cái không gian đầy khói thuốc trộn lẫn với âm nhạc nhẹ phát ra từ chiếc loa không lớn lắm đặt trên cao, tất cả đã trở thành một thứ ma túy đối với chúng tôi.
   …Những quán cà phê lúc bấy giờ đã thực sự trở thành cái nhà của chúng tôi, ngoài giờ đi làm, đi học ra, quán cà phê là nơi chúng tôi thường xuyên có mặt, bất kể ngày đêm, ở đó chúng tôi có thể tìm gặp những người hiểu được mình và có thể thổ lộ mọi điều riêng tư mà không ai phàn nàn gì cả…”
 
     NGUYỄN MẠNH TRINH cũng có những kỷ niệm của riêng mình với thành phố cao nguyên, vẫn nhớ cảnh, nhớ người, nên tâm sự rằng:
     “Tự nhiên, khi nghe nhạc Lê Uyên Phương, tôi lại nhớ về Đà Lạt. Thành phố ấy, những giấc mơ thanh xuân, những ước vọng tuổi trẻ. Tôi tưởng tượng như khi mình đang sống giữa thành phố sương mù. Con đường rào rạt tiếng thông reo của những bình minh vừa ửng hồng. Giữa cái trong veo của thiên nhiên, thấy lòng trải ra những kỷ niệm. Xuống con dốc, qua chợ Hòa Bình, đến thung lũng thấp hơn, khu Hồ Xuân Hương, bến xe. Leo lên con dốc nữa, Nhà thờ Con Gà… Những cảnh gợi nhớ đến người, có lẽ hoài hoài trong trí nhớ… Không có Đà Lạt với rừng thông, với mây trời, không có những bãi cỏ xanh ngút ngàn mông mênh, không có những con dốc đầy hoa, chắc sẽ không có những ca khúc độc đáo mang tên Lê Uyên Phương.”…
     “Viết về Đà Lạt, nhạc sĩ như người trở về thánh địa xưa của mình, của hồi ức mang mang, của những phút giây chẳng thể nào quên được.” … “Thật kỳ lạ, dường như nhạc của Phương phải để cho Lê Uyên hát. Giọng hát hơi khan có pha ma túy của mê đắm tình yêu khiến sự giao cảm thành giác quan rung động. Những nốt láy, những dấu nhấn, những lên cao và xuống thấp thành oà vỡ cảm nhận đến độ rợn người lúc ấy.”

     NGUYỄN MẠNH TRINH thầm nhủ: “Anh Lộc, bây giờ chắc anh gần gũi lắm với suối nhạc của Bach, của Strauss, của Schuberg, của Beethoven… Có khi nào anh trở về, ngồi lại và ghé thăm ngọn đồi thấp gần trường tiểu học thị xã “trước mặt là con đường dốc dẫn xuống Hồ Xuân Hương, dọc hai bên đường những cây mai hồng đang nở rộ, trông như những khóm bông gòn màu hồng nhạt lúc nào cũng tưởng chừng như sắp rời ra từng mảnh nhỏ dưới cơn gió chiều hiu hiu của Đà Lạt?”

     Còn NGUYỄN XUÂN THIỆP thời viết chi tiết hơn về mối giao hảo của mình với Lê Uyên Phương:
     “Thật vậy, nói tới Đà Lạt mà không nhắc tới Lê Uyên Phương, là một điều thiếu sót lớn. Lê Uyên Phương mới là người Đà Lạt chính gốc. Ngôi nhà của cha mẹ anh, ở đường Võ Tánh, sau này là quán Lục Huyền Cầm nổi tiếng. Anh trải qua thời thơ ấu và cả những ngày thanh xuân đẹp nhất ở thành phố trên cao này. Tình yêu của anh và Lê Uyên nở và đã mãn khai tại đây. Anh viết những ca khúc hay nhất cũng trong thành phố này.
     Tôi quen, rồi chơi thân với Lê Uyên Phương khoảng năm 1967, không còn nhớ là vào dịp nào nữa. Tại cà phê Tùng hay Đài Phát Thanh hay trong một buổi họp mặt nào. Không thể nhớ ra. Nhưng tôi không quên, và sẽ không bao giờ quên, hình ảnh của Lê Uyên và Phương. Ban Mây Cao Nguyên của Lê Uyên Phương thời đó là ban nhạc duy nhất ở Đà Lạt…
     Lê Uyên hồi đó hát với tên Cẩm Thúy thật dễ thương. Các bạn của tôi hát là để cho vui thôi, chứ chưa có ý định hay tham vọng gì rõ rệt. Một lần Lê Uyên và Phương hát ở Nhân Văn. Tại đây, lần đầu tiên Trịnh Công Sơn được nghe nhạc Lê Uyên Phương. Đùng một cái, như trong cổ tích, Lê Uyên và Phương về Sàigòn hát và nổi tiếng ghê gớm từ đó. Những năm trôi qua, ánh lửa phù hoa danh vọng dần dịu xuống, Lê Uyên Phương trở về Đà Lạt mở quán Lục Huyền Cầm, như đã nói ở trên. Đây là nơi nuôi dưỡng tiếng hát của Lê Uyên và các ca khúc của Phương. Và đây cũng là nơi gặp gỡ, sinh hoạt của bạn bè nghệ sĩ khắp nơi.”   

     BÍCH ĐÀO 

    BÍCH ĐÀO, một người chị gái của Lê Uyên Phương, viết về kỷ niệm của mình với Phương trong những ngày tháng cũ tại Đà Lạt:
     “Vào thời gian ấy, chúng tôi sống trong một ngôi nhà nhỏ xinh xinh dưới chân đồi Dalat, ngôi nhà đã được phủ kín đầy hoa…
     Mặc dầu nhìn bên ngoài ngôi nhà có vẻ thầm lặng như vậy nhưng bên trong thì thật tưng bừng, rộn ràng vô cùng! Lúc ấy trong nhà còn lại bốn chị em chúng tôi, ba cô và một cậu. Ba cô ấy gồm Hồng Mai, Tuyết Lan và tôi và một cậu là Lộc (lúc đi hát lấy tên là Lê Uyên Phương). Chúng tôi sống với nhau trong một không khí tươi vui và thoải mái vô cùng…
     Lộc đã thích đàn, thích hát từ lúc mới hai ba tuổi, hình ảnh Lộc ngồi bên cửa ôm một thanh củi nhỏ, mắt nhắm lại tay gảy liên tục vào cây đàn gỗ tưởng tượng, miệng hát ê a… là hình ảnh đáng yêu nhất làm mẹ tôi cứ nhắc mãi theo tháng năm… Sau khi đi học được ít lâu, mẹ tôi đã mua cho Lộc một cây đàn Mandoline, Lộc rất mừng khi có được cây đàn như ước mơ! Nhưng được ít lâu, cây đàn ấy chỉ được treo ở vách tường, Lộc nói với mẹ tôi:
     - Má ơi! Má mua cho con một cây guitare, được không má? Má biết không? Ban hợp ca trường con rất cần một cây guitare để đệm, chớ cứ nhìn ban hợp ca phải nhìn tay thầy trưởng ban văn nghệ mà hát con chịu không được má à!”    
     BÍCH ĐÀO kể tiếp:
     “Mẹ tôi phân vân… nhưng khi suy nghĩ kỹ lại, mẹ tôi nhận thấy học chữ cũng như học nhạc phải học từ lúc đầu óc còn trắng tinh còn non trẻ không vướng bận lo âu… nếu bây giờ không học rồi thời gian sẽ qua đi, không bao giờ học được!... Cho nên mẹ tôi đã đồng ý, bà đi mua cho Lộc một cây đàn kha khá và tìm một ông thầy dạy đàn cho Lộc, chẳng bao lâu Lộc là trưởng ban văn nghệ của nhà trường, bắt đầu chúng tôi cũng tập hát suốt ngày, và Lộc cũng bắt đầu trầm ngâm, lặng lẽ tìm ý nhạc”…   
      BÍCH ĐÀO kể tiếp là cả nhóm được mời đi hát tại đài phát thanh Đà Lạt, ban thanh niên Đà Lạt, ban sinh viên học sinh Đà Lạt, gia đình Phật Tử, các ban cứu trợ v.v… Đôi khi cả nhóm “đi vòng theo con đường bờ hồ, rồi leo lên một ngọn đồi thanh vắng, ngồi đó để hít thở không khí trong lành, lắng nghe thông reo vi vu… Nơi đây chúng tôi cảm thấy thanh thản vô cùng!”
     Cả nhóm có cái thú vui thật sảng khoái: “Chúng tôi mải mê hát ca cho đến khi hoàng hôn tắt dần, chúng tôi mới thong dong lần bước về nhà… Cũng có khi chúng tôi đi chơi xa hơn, đến thác Camly, xuống hồ Than Thở… Trong khi ấy phố phường Dalat vui tươi và đẹp đẽ không thể nào kể xiết!... Nam thanh nữ tú hình như đều đi ra phố, phải nói là nếu muốn gặp ai hoặc muốn nhìn ai thì cứ đi ra phố… Trên các con đường thân quen Phan Đình Phùng, Duy Tân, con đường đi xuống bờ hồ đều tấp nập người lên xuống, quang cảnh thật tươi vui và lôi cuốn vô cùng!... Nhưng lúc ấy chúng tôi lại có cái thế giới riêng của chúng tôi.”      

     BÍCH ĐÀO kể lại về mối tình của nhạc sĩ em mình và Lê Uyên trong buổi ban đầu:
     “…trước ngôi nhà gạch ấy có một cô gái thật trẻ, tôi đoán khoảng chừng mười lăm mười sáu tuổi. Nàng ấy thật mảnh mai! Có một mái tóc dài, lại được buộc ra phía sau bằng một chiếc khăn xanh mỏng manh trông thật dễ thương! Tuy nàng Kiều đứng ở xa, chúng tôi vẫn nhận rõ nàng có một khuôn mặt trái soan đẹp như trong tranh Tàu… Đó là hình ảnh của người đẹp Lê Uyên khi nàng mới lên Dalat học, rồi họ quen nhau cũng rất dễ dàng, rất tự nhiên như trời đất sinh họ ra là để họ gặp nhau, yêu nhau theo lời ca tiếng nhạc… Lê Uyên đã hát những bản nhạc của Phương như những lời tâm sự mà Phương đang muốn trang trải ra với tất cả chúng ta, tiếng đàn của Phương như ôm trọn như chan hòa theo tiếng hát của Lê Uyên… Rồi đôi chim trời đã cùng nhau chắp cánh xa bay vào chân trời âm nhạc, nơi đó họ đã được đón mời như một loài chim quý.”     

     Để kết thúc bài viết về Lê Uyên Phương, BÍCH ĐÀO tâm sự:
      “Năm nay 1999, giữa lúc chớm thu, tôi ngồi ghi lại những kỷ niệm của gia đình và thương nhớ Lộc” … “Cầu xin cho linh hồn em được thong dong ở một cõi xa xôi, không còn đau đớn, không còn hận thù, không còn những tỵ hiềm nhỏ nhoi. Lộc ơi, một ngày nào đó tất cả chị em mình rồi sẽ gặp lại nhau, em sẽ hát, sẽ đàn, cây đàn guitare kết bằng hoa cúc trắng các bạn đã mang đến cho em ngày tiễn em về với đất, tất cả sẽ yêu thương em, chúng ta sẽ gặp lại và sẽ cùng hát những ca khúc thật hay, thật lạ của em cho thinh không.”

     Cuộc sống con người quả thật “vô thường”. Sau khi viết những lời trên, chỉ 8 năm sau BÍCH ĐÀO cũng lại đã giã từ nhân thế tại Virginia, Hoa Kỳ. Di thể được hỏa táng và tro cốt được gửi vào chùa trong một thời gian ngắn. Mùa Phật Đản năm 2008 tro cốt này đã được thân nhân đem trải xuống lòng sông Cheasapeak, Virginia, Hoa Kỳ.  

     NINA
 
     NINA, cô em gái Lê Uyên Phương, nhắc lại những kỷ niệm thân thương thời trước với anh mình trong khung cảnh Đà Lạt nhân một đêm đi xem hội chợ tại Domaine de Marie:
     “Trong gia đình, anh là người con trai độc nhất với ba chị và hai em gái, anh rất thương các em, đi chơi đâu anh cũng dẫn theo các em cùng đi. Tôi còn nhớ vào một đêm cuối đông năm 1965, trời Đà Lạt thật lạnh, đầy sao và nhiều gió, ba anh em chúng tôi co ro trong chiếc áo ấm vừa đi, vừa chạy lên xem hội chợ ở Domaine de Marie, đó là một trường nữ do các Ma Soeur hướng dẫn, được xây trên một ngọn đồi thật đẹp của Đà Lạt, ở đây thường hay tổ chức hội chợ vào dịp lễ Giáng Sinh. Những chiếc đèn hoa đăng được thắp sáng trong tay các nữ sinh váy xanh, tóc ngắn hoa cài đã gây xúc động tạo nguồn cảm hứng cho anh.
     Trên đường về, anh đã ngân nga ý nhạc của ca khúc sắp thành hình và trong vòng nửa tiếng đồng hồ sau anh sang phòng chúng tôi và nói đã viết xong ca khúc “Đêm Chợ Phiên Mùa Đông” với lời lẽ và âm điệu nhẹ nhàng thanh thoát như tâm hồn trong sáng của anh.
     Thời gian trôi qua, đến năm mười tám tuổi, lần đầu tiên xa nhà lên Pleiku dạy học. Với khung cảnh hoang dã, vắng vẻ của vùng ngoại ô thành phố Pleiku, anh đã viết ca khúc “Buồn Đến Bao Giờ” rồi tiếp tục là những sáng tác gợi hứng bởi những mối tình nhẹ nhàng thoáng qua, như bài “Nỗi Buồn Dâng Hiến, Kỷ Niệm Trong Chiều, Bài Ca Hạnh Ngộ”... Cho đến khi trở lại Đà Lạt gặp chị Lê Uyên với mối tình say đắm đầy trắc trở của hai gia đình, và trong hoàn cảnh chiến tranh khốc liệt của đất nước, sự sống chết xảy ra hằng ngày, anh đã liên tục viết nhiều ca khúc được nhiều người biết đến như: “Tình Khúc Cho Em, Cho Lần Cuối, Lời Gọi Chân Mây, Hãy Ngồi Xuống Đây, Vũng Lầy Của Chúng Ta.”

     Sau khi nói đến cảm hứng sáng tác nhạc rất bén nhậy của anh mình NINA đưa ra nhận xét thêm về sự kết hợp hài hoà giữa cặp Lê Uyên và Phương khi trình diễn và đã nổi tiếng một thời:
     “Với khả năng sáng tác phong phú luôn luôn đổi mới trong mỗi ca khúc cộng thêm tiếng đàn lục huyền cầm trau chuốt và giọng ca phụ họa đầy tình cảm của anh đã làm thăng hoa thêm tiếng hát trữ tình của chị Lê Uyên, đã lôi cuốn người nghe với nỗi xúc động của mỗi lời ca, ý nhạc mỗi khi anh chị Lê Uyên Phương cùng trình diễn.
     Sau khi lập gia đình với chị Uyên, anh vẫn tiếp tục sáng tác những ca khúc như: “Yêu Trong Phận Người, Đang Mùa Hạ Trên Cao, Uống Nước Bên Bờ Suối, Trên Da Tình Yêu.”…  
   

(Trích: “ĐÀ LẠT NGÀY THÁNG CŨ”
Soạn giả: LS. Ngô Tằng Giao)

1.dalat.jpg - 117.83 Kb

Bạn đang theo dõi trang: Đà Lạt Ngày Tháng Cũ Lê Uyên Phương, Bích Đào & Nina _ (Đà Lạt Ngày Tháng Cũ_#32)