Trần Cao Lĩnh & Trần Vấn Lệ _ (Đà Lạt Ngày Tháng Cũ_#36)

  • PDF

TÌNH YÊU NHƯ BÓNG MÂY
  
  
     Đà Lạt xưa kia giống như một thiếu nữ tuổi xuân thì, dáng đài các, đã từng làm siêu lòng biết bao nhiêu là văn sĩ, thi sĩ, nhạc sĩ, họa sĩ và cả nhiếp ảnh gia nữa… Thật quyến rũ. Thật đắm say. Ghé thăm Đà Lạt để rồi khi chia tay nhau lại bịn rịn. 

     
     KHÁNH GIANG năm 1959 viết về “Đà Lạt với du khách” đã nói:

     “Bạn có sống qua những ngày lặng lẽ u buồn ở Đà Lạt, có ngắm qua những buổi hoàng hôn nhuộm đỏ cánh đồi, có ngồi thu mình nhìn qua giọt mưa nặng trĩu rơi trên cửa kính, có dịp trầm ngâm cô độc say mê theo khói thuốc và hương vị tách cà phê phin đen ngòm, có lủi thủi dưới làn mưa bụi về đêm, có nện gót giày đều đều trên đường phố hoang vắng, có sống qua những giờ phút trống rỗng của cuộc đời và lòng có mang ít nhiều kỷ niệm đau thương, bạn mới cảm được cái “tâm hồn” sâu xa và thấm thía của Đà thành. Và lúc ấy, bạn khó lòng mà rời Đà Lạt được nữa.” 
    
     Tình yêu với Đà Lạt thật muôn vẻ. Khi thì lặng lờ như mặt nước hồ thu êm dịu hay cuồng nhiệt như những bọt nước trắng xóa của thác nước bên đèo. Khi thì giăng mắc như sương khói phủ trên khắp cánh rừng thông. Khi thì tan biến vào thinh không theo tiếng chuông chùa Linh Sơn... tiếng chuông nhà thờ Con Gà... Tình yêu vang vọng và lan đi để rồi hội nhập vào núi đồi Đà Lạt mỗi buổi sáng sớm khi mặt trời còn khuất dạng...

     Phải chăng đối với những ai đã từng sinh trưởng tại Đà Lạt, hay đã có một thời gian dài sinh sống tại đây hoặc chỉ là du khách ghé thăm thành phố trong ít ngày thời Đà Lạt của những ngày tháng cũ đã để lại trong tận cùng tâm khảm con người những niềm thương nỗi nhớ sâu đậm và thiết tha… như suối nguồn tuôn chảy. Nói hoài không hết!

     Sau đây chỉ thâu thập và ghi lại được một phần nào cái tình cảm thương yêu và nhớ nhung đó mà thôi! Mỗi người một vẻ! Tình yêu với Đà Lạt bồng bềnh như bóng mây, một thời đã hội tụ quyến luyến trên bàu trời thành phố cao nguyên thời nay lại man mác dàn trải ra khắp cả bốn phương trời… Nỗi nhớ khôn nguôi!

TRẦN CAO LĨNH

     Nhiếp ảnh gia TRẦN CAO LĨNH lại có những kỷ niệm về Đà Lạt khác với các du khách thường:
 
     “Màu sắc, âm thanh, cỏ cây, đồi núi, mây vương, sương phủ nơi Cao Nguyên Đà Lạt là một mục tiêu hấp dẫn nhiều nhà nhiếp ảnh. Chất men say địa phương đó quả đã là nguồn gây hứng mãnh liệt cho những con người đi săn hình ảnh.

     Những người nhiếp ảnh thưởng ngoạn theo một lối riêng, không giống con mắt những du khách thường: có những đêm, trời còn tối mù trong giá buốt căm căm, chăn bông đang trùm kín đầu mà bỗng nghe một ông bạn có bệnh dậy đêm suýt xoa nói: “Trời! Có hy vọng sương lắm!” là cả bọn vùng dậy sửa soạn, hơi thở phì phèo bốc khói. Họ vội vàng để kịp tới một nơi cách xa hàng hai ba mươi cây số, ở đấy có sương đọng và cảnh chỉ Đẹp lúc mặt trời mới hé…

     Khi đã mỏi mắt về những bố cục cảnh rộng bao la, họ tha thẩn lê la như đàn con trẻ trong bụi cỏ, bờ suối và mê man với từng cánh lan rừng, từng bông hoa dại đang nằm trong một chiều ánh sáng tuyệt mỹ. Đó là những công trình khám phá cái Đẹp, mà muốn tận hưởng khách du cần phải mắc được bệnh Say Mê…

     Cái mà anh em nhiếp ảnh say mê nhất - gọi là bắt mắt - vẫn là những người Thượng “xấu xí” với những sinh hoạt hàng ngày. Nói đến hình ảnh Cao Nguyên mà quên đi vẻ đẹp người Thượng thì thật là thiếu sót.

     Người Thượng có một sức ăn ảnh lạ thường, màu da, góc cạnh, đường nhăn, nét lõm đều phân minh hòa hợp. Trước bối cảnh núi rừng, phải công nhận ngay họ có một vẻ đẹp phù hợp tuyệt đối. Họ đi đâu thường mang cả nhà theo, mỗi khi gặp là thấy một gia đình di chuyển trong nếp sống du mục. Cuộc đời của họ rất quyến rũ ống kính và đã rung động không ít những con mắt sành điệu trong thế giới ảnh.

     Cho tới nay, hình ảnh Cao Nguyên Đà Lạt đã đóng góp một phần không nhỏ trong những tác phẩm gửi đi tranh tài quốc tế. Thành tích ghi được trên bảng vàng danh dự kể cũng đã một phần nào bù đắp được nỗi cực nhọc lặn lội của những con người Nhiếp Ảnh Việt Nam.

     Những nơi ấy, của Trời Đất còn nhiều, có đi hàng tuần, ở hàng tháng lúc về cũng vẫn còn cứ thấy thòm thèm và vì vậy mỗi lần bàn nhau tổ chức một cuộc đi săn ảnh Cao Nguyên thì mắt anh em lại sáng ngời lên như những ống kính loại tối tân nhất.

     ...Thế rồi, khi chiếc máy đã đeo bên mình, ngả lưng vào đệm êm một chiếc xe đường trường, lơ mơ nhìn khói thuốc hướng lòng mình lên Cao Nguyên, đường còn xa mới tới mà tai ù ù như đã vẳng thấy tiếng chày giã gạo ở một sóc hẻo lánh nào, hay tiếng xe “tắc à tắc”, một loại xe đặc biệt của Đà Lạt vẫn thường chở du khách đến những phần đất mang tên: Cam Ly, Suối Vàng, Rừng Ái Ân, Hồ Than Thở...”

TRẦN VẤN LỆ

     Vốn cư ngụ tại thành phố Đà Lạt lâu năm nhà giáo, nhà thơ TRẦN VẤN LỆ bộc lộ nỗi lòng nhung nhớ một cách thật tha thiết:  

     “Tôi thượng cư Đà Lạt vào một chiều mùa Thu năm 1958. Tôi chính thức mất quốc tịch Việt Nam cuối mùa Xuân 1989. Ba mươi mốt năm trời tôi ở với Đà Lạt, phải chi tôi chết đi để tôi quên Đà Lạt của tôi… Đà Lạt! Tôi nhớ. Đà Lạt ơi! Tôi chết mất.

     Đà Lạt không phải là nàng Tiên mà tôi cứ tương tư, những đêm nằm trên gác trọ của thời đi học, của thời đi dạy, của thời lập gia đình với một người sinh ra và lớn lên trên miền đất núi. Hình như Đà Lạt là con người nào đó to lớn gấp triệu triệu lần. Con người đứng cạnh đời tôi, con người cầm tay lái xe taxi đưa tôi về chỗ đầu tiên tôi đóng tiền ăn cơm tháng, con người cầm giây cương xe ngựa đưa tôi đi vòng vèo trong thành phố rau hoa... Tôi thấy con người đó là mấy trăm khuôn mặt tuổi thơ ngôi trường tiểu học tôi đến trình Sự vụ lệnh làm thầy giáo. Trại Hầm. Xứ của mận chát, mận chua, mận dòn tan tiếng cười cô bé Thượng K'Ho. Tôi thấy con người đó là cổng Tam quan của chùa sư nữ Linh Phong, vị Sư Bà người Huế hiền mơ như bà nội của tôi, những cô “thầy chùa” xinh đẹp lạ lùng, quyết tâm từ bỏ cõi trần ô trược. Tôi thấy con người đó là nhà hàng khiêu vũ Night Club nơi tiếng hát Khánh Ly vút cao hụt hẫng những ngày chưa ra đời Trịnh Công Sơn. Ngôi biệt thự nhiều ngói mái đỏ đó, nơi những tiếng hát uất nghẹn của thời khói lửa, nằm trên ngọn đồi án ngữ con đường đổ dốc Trại Hầm, đổ sụp tan nát hồi năm 1968 bởi một trái mìn, còn làm kinh hãi mãi mãi lòng tôi. Tôi thấy con người đó là mặt nước hồ Xuân Hương chao sóng những ngày mùa Đông dữ dội, rộn ràng nắng nhảy trên những tàng cây mai hồng rực rỡ trong dịp Noel, soi bóng lung linh, long lanh, chờn vờn, chới với. Tôi thấy con người đó là hàng ngàn học sinh trường Nữ trung học Bùi Thị Xuân áo dài trắng, quần trắng, tóc thề bay tả tơi những buổi mai chào cờ, mắt biếc chao chao nhìn thầy cô chẳng thấy ai hiền như Phật…

     Đà Lạt dẫn tôi về với nó bằng chuyến xe lửa leo núi. Ở tuổi thơ, tôi tự cho mình là anh hùng, như cái đầu máy xe lửa cổ lỗ kia, leo lên đến cao độ 1.500 m. Tôi hơn cái đầu máy xe lửa kia, tôi leo lên cả đỉnh núi Lang Bian cao 2.063 m nhìn bao quát Đà Lạt, ngó ra tận biển Cam Ranh, mây trắng, tôi hình dung bãi cát, thùy dương và sóng nước... Tôi đã đi vòng tròn Đà Lạt với con đường vòng Lâm Viên, cỡi Honda vào sâu những buôn Thượng, học nói tiếng Thượng, bập bẹ như bây giờ đang học nói tiếng Anh. Lúc nào tôi cũng nhớ Đà Lạt, muốn nhắc Đà Lạt với bất cứ ai. Đà Lạt ơi! Đà Lạt ơi! Tôi gọi thảm thiết suốt đời tôi sao?

     Tôi không sinh ra ở Đà Lạt. Nhưng tôi lớn lên trong sương mù. Nhưng tôi lớn lên trong khói lửa. Nhưng tôi lớn lên trong bụi phấn bảng lả tả bay trên áo, trên đầu. Tôi nhớ những ngày nắng. Tôi nhớ những đêm mưa. Tôi nhớ những chiều say khướt. Tôi quên được một chút nào một thời khổ lụy. Tôi đẹp trai. Tôi xấu trai. Tôi lành lặn. Tôi tả tơi. Đà Lạt ơi, với tôi là một. Vui đó. Buồn đó. Hồi nào. Bây giờ.

     Tôi có khả năng, tôi có thừa khả năng để mô tả Đà Lạt, quê hương trong trí nhớ, qua một bài luận văn lắm chứ… Tôi không thích vẽ vời Đà Lạt trong cái khung vải của người họa sĩ, trong một bài báo có chấm phết rõ ràng. Đà Lạt của tôi mơ hồ, lãng đãng, vu vơ, rõ ràng và cũng mờ mịt lắm lắm. Tôi ôm Đà Lạt vào lòng, mửa ra từng búng thơ. Tôi chưa thành công để đúc cho em, Đà Lạt yêu thương duy nhất, pho tượng vàng đọng kết từ máu xương tôi. Tôi chưa chết. Giết tôi đi! Để tôi quên Đà Lạt!...

     Tôi muốn trở về dù tôi không làm gì được nữa ở Đà Lạt, nhưng tôi cúi xuống lượm được những cọng lá thông, thắt những chiếc nhẫn vàng của mùa Thu bất tận. Tôi yêu Đà Lạt mỗi mùa. Xuân Đà Lạt với mai đào thơm ngát. Hạ Đà Lạt với mận dòn, đắng, và chua chát. Thu Đà Lạt với lá thông lả tả. Đông Đà Lạt với phấn vàng bay, sương vương…

     Tôi thật sự đã không còn là người thầy. Tôi dạy cho các em chưa hết bài học yêu nước. Tôi cắn nát Đà Lạt đêm đêm những giọt nước mắt gửi về. Con dốc nhà làng ơi, tôi lăn dài đã mấy giấc chiêm bao!”

     Nỗi nhớ thương của TRẦN VẤN LỆ với Đà Lạt được trút ra thành quá nhiều vần thơ. Bài “Đà Lạt ơi” viết năm 1990:

“Đau lòng xót dạ bỏ ra đi
Đà Lạt ơi thương lắm chẳng về!
Núi úp sông nghiêng buồn với tủi
Sương mù tuyết phủ tỉnh hay mê
Ngựa đùa hí nắng trên đồi cỏ
Nai lạc tìm thu dưới lũng quỳ
Đất khách ai giăng màn lệ biếc
Mơ hồ cứ tưởng dặm sơn khê.”

     Thêm một bài thơ nữa của người xa xứ. Bài “Đà Lạt buồn ơi”:

     “Đà Lạt ơi buồn! Gọi em từ Mỹ! Ta thèm ngựa hí nghe tiếng thời gian... Những đồi cỏ vàng, tháng Giêng còn nắng; em còn gánh nặng hai đầu mù sương...
     Đà Lạt ơi buồn! Gọi em, muốn khóc, nơi ta chải tóc làm xanh nước hồ, em là Nàng Thơ yêu ta thời trẻ, nói lời nhỏ nhẹ: Em Chờ Anh Thôi!
     Đà Lạt xa xôi... Nửa đời bóng đổ, ta thèm được dỗ như đứa trẻ con! Chân em bước giòn qua đường đá sỏi, có nghe ta gọi? Đà Lạt buồn ơi!
     Sao em không cười cho con ngựa hí? Đồi xanh nước Mỹ nhớ sao cỏ vàng, tháng Giêng mênh mang! Ta ngồi một chỗ như chim trong ổ, như ếch trong hang!
     Đà Lạt! Dấu than. Viết rồi ta chấm. Em nhìn mực đậm, khóc đi người yêu! Ta tuổi đời xiêu, mai về cũng gục, hai mươi năm nhục cất đầu không lên!
     Đà Lạt ôi em! Lời này vĩnh biệt! Em còn tha thiết, hãy gánh mù sương rải cho trắng vườn, thấy ta tóc bạc, gió chiều bay giạt tà áo em xưa... Đà Lạt! Ước mơ! Ta còn hay mất?”
    
     Thơ nhớ Đà Lạt còn nhiều, tạm ghi thêm bài “Hồi âm sương”:

     “Em muốn anh về dạo phố sương! Ôi câu em nói nghe mà thương… Phải chi anh hóa thành chim nhỉ thì nghĩa gì đâu mấy đại dương! Phải chi anh hóa thành mây nhỉ, chút khói chiều bay em thấy anh! Ai khiến em làm chi tượng đá, chờ anh đứng mãi giữa rừng xanh?
     Sương mù Đà Lạt như sương Mỹ, em ạ sương đâu cũng trắng trời! Anh ở đây chiều đi dạo phố, nhớ về Đà Lạt - nhớ em thôi!”…

(Trích: “ĐÀ LẠT NGÀY THÁNG CŨ”
Soạn giả: LS. Ngô Tằng Giao)

1.dalat.jpg - 117.83 Kb

Bạn đang theo dõi trang: Đà Lạt Ngày Tháng Cũ Trần Cao Lĩnh & Trần Vấn Lệ _ (Đà Lạt Ngày Tháng Cũ_#36)