Nguyễn Thị Ngọc Dung & Bùi Bích Hà _ (Đà Lạt Ngày Tháng Cũ_ #37)

  • PDF

2.dalat2.jpg - 463.96 Kb

TÌNH YÊU NHƯ BÓNG MÂY
  
  
     Đà Lạt xưa kia giống như một thiếu nữ tuổi xuân thì, dáng đài các, đã từng làm siêu lòng biết bao nhiêu là văn sĩ, thi sĩ, nhạc sĩ, họa sĩ và cả nhiếp ảnh gia nữa… Thật quyến rũ. Thật đắm say. Ghé thăm Đà Lạt để rồi khi chia tay nhau lại bịn rịn. 

     
     KHÁNH GIANG năm 1959 viết về “Đà Lạt với du khách” đã nói:

     “Bạn có sống qua những ngày lặng lẽ u buồn ở Đà Lạt, có ngắm qua những buổi hoàng hôn nhuộm đỏ cánh đồi, có ngồi thu mình nhìn qua giọt mưa nặng trĩu rơi trên cửa kính, có dịp trầm ngâm cô độc say mê theo khói thuốc và hương vị tách cà phê phin đen ngòm, có lủi thủi dưới làn mưa bụi về đêm, có nện gót giày đều đều trên đường phố hoang vắng, có sống qua những giờ phút trống rỗng của cuộc đời và lòng có mang ít nhiều kỷ niệm đau thương, bạn mới cảm được cái “tâm hồn” sâu xa và thấm thía của Đà thành. Và lúc ấy, bạn khó lòng mà rời Đà Lạt được nữa.” 
    
     Tình yêu với Đà Lạt thật muôn vẻ. Khi thì lặng lờ như mặt nước hồ thu êm dịu hay cuồng nhiệt như những bọt nước trắng xóa của thác nước bên đèo. Khi thì giăng mắc như sương khói phủ trên khắp cánh rừng thông. Khi thì tan biến vào thinh không theo tiếng chuông chùa Linh Sơn... tiếng chuông nhà thờ Con Gà... Tình yêu vang vọng và lan đi để rồi hội nhập vào núi đồi Đà Lạt mỗi buổi sáng sớm khi mặt trời còn khuất dạng...

     Phải chăng đối với những ai đã từng sinh trưởng tại Đà Lạt, hay đã có một thời gian dài sinh sống tại đây hoặc chỉ là du khách ghé thăm thành phố trong ít ngày thời Đà Lạt của những ngày tháng cũ đã để lại trong tận cùng tâm khảm con người những niềm thương nỗi nhớ sâu đậm và thiết tha… như suối nguồn tuôn chảy. Nói hoài không hết!

     Sau đây chỉ thâu thập và ghi lại được một phần nào cái tình cảm thương yêu và nhớ nhung đó mà thôi! Mỗi người một vẻ! Tình yêu với Đà Lạt bồng bềnh như bóng mây, một thời đã hội tụ quyến luyến trên bàu trời thành phố cao nguyên thời nay lại man mác dàn trải ra khắp cả bốn phương trời… Nỗi nhớ khôn nguôi!

NGUYỄN THỊ NGỌC DUNG   
    
     Hình ảnh những cặp tình nhân có lẽ đã gắn liền với khung cảnh mộng mơ, với khí hậu lành lạnh mơn trớn da thịt của Đà Lạt nên nơi đây rất thích hợp để tình yêu nẩy nở. Ai mà chẳng cần một vòng tay ấm quàng ngang bờ vai hay ôm ngang thân mình khi đi dạo phố cùng nhau? Từ ngàn xưa Đà Lạt luôn được coi là thành phố lý tưởng của những cặp tân hôn trong tuần trăng mật.

     NGUYỄN THỊ NGỌC DUNG từng tâm sự rằng Đà Lạt là nơi thường được chọn làm “trường sở” cho những cô gái học vỡ lòng “làm vợ” và tường thuật lại chuyến đi hưởng tuần trăng mật này của mình với chàng Nguyễn:

     “Tôi đã học lớp sơ cấp làm vợ từ đêm tân hôn và tuần lễ trăng mật ngắn hơn dự định trên thành phố Đà Lạt. Người vợ học trò cứ ngỡ cái nghĩa trăng mật thơ mộng hơn lên phòng ngủ, xuống phòng ăn, ra phố chợ rồi lại về khách sạn. Chúng tôi không đi ngoạn cảnh xa ngoài mấy bước dạo bên bờ Hồ Xuân Hương. Không một hình kỷ niệm được chụp như tôi nghĩ trước ngày cưới. Có một lúc, tôi đã ngúng nguẩy đi lên sân thượng của khách sạn nhìn ra bốn phía cao nguyên bao la. Ngọn Lang Bian xanh ngắt vẫn mơ màng trong màn mây phủ trắng. Nguyễn để tôi ngắm cảnh một mình, ngắm chán phải xuống phòng.”…

     Tuy nói thế nhưng có lẽ “giận thì giận” mà có lúc “thương thì vẫn thương” nên khi sau khi cô gái đã “tốt nghiệp khoá học làm vợ” và có dịp từ Sài Gòn lên thăm chồng tại trường Đại Học Quân Sự ở Đà Lạt một buổi nào đó cũng được NGUYỄN THỊ NGỌC DUNG ghi nhớ và tường thuật lại một cách hào hứng với nhiều dấu ấn không kém phần thích thú xen lẫn “hồi hộp”:

     “Một cái giường sắt nhỏ bên cửa sổ. Đây đó, vài cái khác trống hay có người nằm, ngồi trong phòng ngủ chung rộng lớn của quân trường. Nguyễn xách cái va-li nhỏ và ôm eo tôi:
     - Đi lại giường anh ngồi cho đỡ mỏi chân…
     Nguyễn ngả người trên giường, một tay chống đầu, một tay vuốt tóc tôi:
     - Em nằm xuống đây nghỉ với anh.
     Tôi nhìn xung quanh:
     - Kỳ quá anh, không được!
     Nhưng Nguyễn đã nhanh tay kéo tôi ngã xuống bên chàng và tung chăn trùm kín cả hai. Nguyễn bắt đầu ôm hôn, sờ soạng vợ lia lịa. Tôi càng chống cự, chàng càng tham lam. Tôi trở sang thế thụ động, nằm yên để Nguyễn dịu cơn sôi động. Tôi thì thầm:
     - Đừng! anh ơi, đừng! Thấy mình lục đục trong chăn người ta cười cho. Anh làm tới, lát nữa em phải đội cái chăn này đi ra cửa đấy. Xấu hổ chết mất!
     Quả nhiên, ngọn núi lửa hạ hỏa dần, không đòi phun nhám thạch bất tử. Thoát giây phút gay cấn, tôi thỏ thẻ dò hỏi Nguyễn, vẫn trong chăn tùm hum tối:
     - Thế các bà, các cô khác vào thăm, các ông cũng làm thế này ư?
     - Bậy nào, không phải vợ, ai dám ẩu…
     Nguyễn mở chăn lên và đóng sập xuống ngay:
     - Chúng nó ngồi đầy ra xung quanh nhìn mình đây này!
     Giấu mặt vào ngực Nguyễn, tôi hốt hoảng:
     - Anh hại em quá. Bây giờ phải làm sao?!
     Nguyễn xoa lưng tôi thích thú:
     - Anh nói giỡn vậy thôi. Chúng nó thấy mình lục đục đã lảng hết rồi.
     - Lại còn chuyện đồng lõa nữa. Khiếp các ông quá!”

     Mãi sau đó khi không hoàn toàn như ý với không khí gia đình của mình tại Sài Gòn cô vợ trẻ lại chọn thành phố Đà Lạt để lên ở dăm ba bữa hầu xa lánh cái bực bội trong liên hệ vợ chồng:

     “Để một miếng giấy trên bàn đầu giường ngủ với hàng chữ, “Đi chơi vài ngày thay đổi không khí” tôi xách va-li nhỏ ra bến xe đò Minh Trung, mua vé xe đi Đà Lạt. Xe nghỉ ở Định Quán và nhiều chỗ khác, tôi không ra khỏi xe một lần. Đến thành phố của đồi cỏ, rừng thông, tôi thuê một phòng trong khách sạn mà Nguyễn và tôi đã ở tuần trăng mật. Dù sao chỗ này cũng có vẻ quen thuộc, đỡ sợ.
     Nhân viên khách sạn lưỡng lự, soi mói nhìn tôi từ đầu đến chân… Tôi kiếm mua mấy tờ báo văn học mà tôi vẫn thích đọc thời nữ sinh, rồi đi ăn phở, một món ăn giản tiện nhất cho kẻ độc hành trong cái lạnh đến tận mảnh xương tủy nhỏ. Tiệm phở Đà Lạt đặc biệt có nhiều rau diếp, giá sống và các rau húng cây, húng quế, húng xoăn, ngò gai để trên bàn. Tôi cố ăn hết tô phở cho no, mong về khách sạn ngủ dễ dàng. Nếu được chọn giữa ăn và ngủ để sống, tôi chọn điều thứ hai. Người đàn bà trẻ có chồng phụ bạc, xa vắng từ lâu, luôn thiếu giấc yên lành.”

     Những tuần “trăng mật” ở Đà Lạt lúc nào cũng là… “mật đắng” cả hay sao? Đối với người khác chắc tình tứ và thơ mộng chứ!

BÙI BÍCH HÀ

     BÙI BÍCH HÀ cũng ghi nhớ lại kỷ niệm về tuần trăng mật của mình tại Đà Lạt năm xưa:

     “Năm 23 tuổi, tôi lấy chồng. Trước ngày cưới, chàng viết thư cho tôi: “Anh sẽ đưa em đi Đà Lạt.” Chuyến đi như một giấc mơ lặng lẽ, vội vàng, buồn tủi. Đà Lạt ít tiếng động hay lòng tôi hoang vắng, quạnh hiu? Cô gái tỉnh lẻ đứng ngơ ngác trên mấy bậc thềm đá rộng ở tiền đình khách sạn Palace. Cầu thang trải thảm đỏ im lìm. Gian phòng ăn với những người hầu bàn quần áo hồ cứng, khăn trắng vắt trên tay, sẵn sàng ngay từ ánh mắt đầu tiên của thực khách. Họ di chuyển êm như những chiếc bóng, thỉnh thoảng nghe tiếng lách cách của dao nĩa chạm nhẹ vào nhau như tiếng nứt rạn của không gian căng cứng sự yên lặng. Xeo xéo bên kia đường hình như là tu viện Nazareth. Tôi cố hình dung ra bộ mặt hạnh phúc của những người nữ bên sau vì tường cao và cánh cửa đóng kín. Có lẽ ở bất cứ đâu, bộ mặt hạnh phúc đều giống nhau, tưởng chừng hoặc mãi mãi cứ là một đuổi theo, tìm kiếm.

     Chợ Đà Lạt có những bà hàng hoa khăn mỏ quạ, môi cắn chỉ, mặc áo bông, làm liên tưởng đến làng hoa Ngọc Hà trong Tự Lực Văn Đoàn…

     Ở chỗ con dốc đầu chợ thoải lên rạp chiếu bóng Ngọc Lan, có một hàng quà Huế ngon chảy nước mắt: bánh khoái, mì Quảng... thứ nào cũng xuất sắc. Vỏ bánh khoái dòn rụm, lát chuối xanh hăng mùi nhựa non, ăn với một tép tỏi trắng nõn và một thìa nước lèo mượt như xa tanh, gợn một chút váng đỏ như vân hổ phách. Sau Hội An, mì Quảng không ở đâu sánh bằng Đà Lạt. Nước tôm kho dánh, cay xé họng, thấm vào từng sợi mì thơm phức mùi bánh tráng mè nướng vừa tới, bắp chuối non bóc hết lớp áo nâu, trong như một búp ngọc lan khổng lồ, còn giữ nguyên trong thớ mỏng mùi cỏ cây hoang dã của những mảnh vườn quê Việt Nam, rau húng thái nhỏ... Trong thời tiết Đà Lạt se lạnh, những thức ăn đậm đặc gia vị của miền Trung có tác dụng của một bếp lửa ấm. Khác với phong cách Hà Nội đôi đũa son gẩy từng cọng giá, người ăn tô bún bò Huế hay tô mì Quảng bên hè đường vội vàng, hối hả, xuỵt xoạt, như bị cảm xúc và vị giác rượt đuổi, đổ mồ hôi, dã diếu, mệt nhoài.

     Đà Lạt những năm 68-69 còn một quán ăn đêm đâu như ở cuối con dốc Duy Tân, do hai chị em cùng xinh đẹp, duyên dáng, làm chủ. Nói là quán, nhưng thực tế chỉ là cái xe gỗ thắp đèn bão, chỗ ngồi là những cái ghế đẩu xếp chen chúc xung quanh ba phía của cái xe. Thức ăn gồm có xôi lạp xưởng, xôi gà, bánh cuốn nóng, cháo lòng v.v... Thực khách đến ăn, một phần để thưởng thức món ăn lúc bao tử đã ngót bữa cơm chiều hay sau chuyến đi dài từ Sàigòn lên, một phần để nhìn ngắm dung nhan hai cô chủ quán, bàn tay thoăn thoắt trên thớ thịt và chồng bát đĩa cao nghệu, đôi má đỏ au, đôi môi cười như hoa nở, và một phần nữa để hưởng cái thú ăn uống tự do và ấm áp giữa trời đêm Đà Lạt băng giá, bên cạnh những người bạn bỗng dưng thấy gần nhau hơn trong vầng sáng thu hẹp bên trên chỗ ngồi.”

     BÙI BÍCH HÀ kể lại chuyến lên Đà Lạt và lưu ngụ tại một trong hai ngôi biệt thự dành cho nhân viên của hãng Shell đi nghỉ hè:

     “Toà nhà bốn phía cửa kính, tọa lạc trên ngọn đồi thông nghe nói gần khu trường Đại Học Quân Sự. Các con tôi từ một căn phố chật gần chợ Bà Chiểu, nay đặt chân đến tòa nhà kiến trúc mỹ lệ này, chúng thảnh thơi như những con cá nhỏ bơi trong hồ nước lớn. Ban ngày, chúng đuổi bắt nhau sau những gốc thông thơm mùi nhựa tươi. Buổi tối, nằm trong ghế bành ấm hơi lò sưởi, chúng lắng nghe tiếng lửa nổ tí tách và tiếng gió lùa rì rào qua rừng thông xung quanh nhà, tưởng tượng đến những chuyện thần tiên thường nghe bà ngoại kể, rồi ngủ thiếp đi, vầng trán thơ ngây lãng đãng giấc mơ hiền hòa.”

     Trong một đoạn khác viết về ngôi nhà của ông anh tại Đà Lạt:

     “Dưới dàn hoa và bên khung cửa sổ vấn vương những dây leo xanh mướt… Tôi yêu cái lạnh se sắt dưới trời Đà Lạt mờ sương, những khoảng đường tịch mịch gợi nhắc mơ hồ một thời quá khứ.

     Tháng 3 năm 1975, được tin mất Đà Lạt, tôi khóc vùi. Cái ý nghĩ thôi từ nay không bao giờ còn được nhìn thấy Đà Lạt khiến lòng tôi rã rời, đau đớn.”…

(Trích: “ĐÀ LẠT NGÀY THÁNG CŨ”
Soạn giả: LS. Ngô Tằng Giao)

1.dalat.jpg - 117.83 Kb

Bạn đang theo dõi trang: Đà Lạt Ngày Tháng Cũ Nguyễn Thị Ngọc Dung & Bùi Bích Hà _ (Đà Lạt Ngày Tháng Cũ_ #37)