Hồng Thủy & Phạm Duy _ (Đà Lạt Ngày Tháng Cũ _ #38)

  • PDF

3.jpg - 94.11 Kb

TÌNH YÊU NHƯ BÓNG MÂY
  
  
     Đà Lạt xưa kia giống như một thiếu nữ tuổi xuân thì, dáng đài các, đã từng làm siêu lòng biết bao nhiêu là văn sĩ, thi sĩ, nhạc sĩ, họa sĩ và cả nhiếp ảnh gia nữa… Thật quyến rũ. Thật đắm say. Ghé thăm Đà Lạt để rồi khi chia tay nhau lại bịn rịn. 

     
     KHÁNH GIANG năm 1959 viết về “Đà Lạt với du khách” đã nói:

     “Bạn có sống qua những ngày lặng lẽ u buồn ở Đà Lạt, có ngắm qua những buổi hoàng hôn nhuộm đỏ cánh đồi, có ngồi thu mình nhìn qua giọt mưa nặng trĩu rơi trên cửa kính, có dịp trầm ngâm cô độc say mê theo khói thuốc và hương vị tách cà phê phin đen ngòm, có lủi thủi dưới làn mưa bụi về đêm, có nện gót giày đều đều trên đường phố hoang vắng, có sống qua những giờ phút trống rỗng của cuộc đời và lòng có mang ít nhiều kỷ niệm đau thương, bạn mới cảm được cái “tâm hồn” sâu xa và thấm thía của Đà thành. Và lúc ấy, bạn khó lòng mà rời Đà Lạt được nữa.” 
    
     Tình yêu với Đà Lạt thật muôn vẻ. Khi thì lặng lờ như mặt nước hồ thu êm dịu hay cuồng nhiệt như những bọt nước trắng xóa của thác nước bên đèo. Khi thì giăng mắc như sương khói phủ trên khắp cánh rừng thông. Khi thì tan biến vào thinh không theo tiếng chuông chùa Linh Sơn... tiếng chuông nhà thờ Con Gà... Tình yêu vang vọng và lan đi để rồi hội nhập vào núi đồi Đà Lạt mỗi buổi sáng sớm khi mặt trời còn khuất dạng...

     Phải chăng đối với những ai đã từng sinh trưởng tại Đà Lạt, hay đã có một thời gian dài sinh sống tại đây hoặc chỉ là du khách ghé thăm thành phố trong ít ngày thời Đà Lạt của những ngày tháng cũ đã để lại trong tận cùng tâm khảm con người những niềm thương nỗi nhớ sâu đậm và thiết tha… như suối nguồn tuôn chảy. Nói hoài không hết!

     Sau đây chỉ thâu thập và ghi lại được một phần nào cái tình cảm thương yêu và nhớ nhung đó mà thôi! Mỗi người một vẻ! Tình yêu với Đà Lạt bồng bềnh như bóng mây, một thời đã hội tụ quyến luyến trên bàu trời thành phố cao nguyên thời nay lại man mác dàn trải ra khắp cả bốn phương trời… Nỗi nhớ khôn nguôi!

HỒNG THỦY

     Cô nữ sinh trường trung học Trưng Vương HỒNG THỦY cũng ghi lại những kỷ niệm yêu dấu của mình với Đà Lạt, nhất là “chuyến trăng mật muộn” của chính mình về sau này:

     “Tôi không phải là dân Đà Lạt. Cũng chưa về định cư ở Đà Lạt. Nhưng tôi có nhiều kỷ niệm với Đà Lạt và yêu Đà Lạt vô cùng.

     Lần đầu tiên đặt chân đến Đà Lạt là năm tôi vừa 15 tuổi, cái tuổi với riêng tôi vẫn còn nghịch phá, chưa biết mơ mộng về tình yêu, và còn ngô nghê nhiều khi đến buồn cười. Tôi được mẹ dẫn đi nghỉ mát Đà Lạt cùng với phái đoàn của nhà thờ. “Phái đoàn nhà thờ” này gồm có vài gia đình “ngoan đạo thứ thiệt” và là những người năng nổ hoạt động và có tiếng tăm trong nhà thờ...

     Những ngày ở Đà Lạt, chúng tôi ở biệt thự Tĩnh Tâm, ngôi biệt thự khá lớn có thật nhiều hoa Pensée, hoa hồng và hoa bất tử (Immortel), một loại hoa giống như hoa cúc nhỏ, có đủ mầu thật đẹp. Đặc điểm của loại hoa này là cánh hoa giống như hoa giả nên không bao giờ tàn. Một bình hoa bất tử có thể chơi được từ năm này qua năm khác. Để lâu, mầu hoa phai dần đi, nhưng bông hoa thì vẫn nguyên vẹn như mới...

     Lần thứ hai viếng thăm miền cao nguyên thơ mộng này, sau khi tôi đã lập gia đình và có đứa con trai đầu lòng. Thường thường sau đám cưới, cô dâu chú rể hay dắt nhau đi hưởng tuần trăng mật ở Đà Lạt. Riêng tôi, lấy chồng nhà binh, những ngày phép quá ngắn ngủi để lo liệu một đám cưới, nên chẳng còn ngày giờ đi trăng mật. Phải tới khi đứa con đầu lòng tròn hai tuổi. Chàng của tôi được nghỉ phép một tuần sau chuyến công tác quá dài… chúng tôi mới có thì giờ đi “trăng mật muộn”.

     Chuyến “trăng mật muộn” này có cả cậu quí tử nhóc tì và cô người làm đi theo. Chúng tôi ở nhà người bạn thân của chúng tôi, anh Nguyễn Hữu Nghi, trưởng ty điền địa Đà Lạt. Nhà của anh chị Nghi đẹp và thơ mộng vô cùng. Ngôi nhà toàn bằng gỗ thật lớn tọa lạc giữa rừng thông rộng mênh mông. Mỗi bữa cơm chúng tôi được chị Nghi cho ăn những món xào nấu thật ngon với toàn rau tươi hái ở ngoài vườn.

     Mỗi lần theo chị Nghi đi chợ Đà Lạt là tôi lại ngẩn ngơ nhìn những cây hoa Mimosa vàng trong nắng ở hai bên đường. Tôi thích nhất là gian hàng hoa và trái cây. Hoa nào cũng đẹp, trái cây nào cũng căng mọng nhìn phát mê luôn.

     Anh chị Nghi đưa chúng tôi đi thăm hết các danh lam thắng cảnh của Đà Lạt. Nơi nào cũng có những nét đẹp đặc biệt, khiến khi rời Đà Lạt tôi không thể nào quên.
     Những năm cuối ở Việt Nam, chúng tôi may mắn sống ở Cam Ranh, khá gần Đà Lạt. Thỉnh thoảng cuối tuần, chúng tôi lại lái xe lên chơi Đà Lạt. Để được ăn tô phở Bằng thật ngon. Được đạp thuyền ở hồ Xuân Hương. Được có cái thú ngồi vỉa hè, ăn ly chè nóng hay nhâm nhi cái bắp nướng ngon tuyệt ở dốc Minh Mạng, gần khu chợ Hoà Bình. Hoặc lâu lâu lại ghé phòng trà La Tulipe Rouge nhẩy đầm và nghe nhạc. Hình như cái không khí lạnh của Đà Lạt làm cho phòng trà quyến rũ hơn.

     Mới đây mà đã 30 năm qua. Sáng nay ngủ dậy nhìn qua cửa sổ, sương mù còn vương vấn trên những ngọn thông xanh. Tự nhiên tôi thấy nhớ Đà Lạt.” 

daquy1.jpg - 22.79 Kb


PHẠM DUY

     Nhạc sĩ PHẠM DUY viết lại những kỷ niệm đầu đời của mình khi mới bước chân vào “nghề hát” với gánh hát Đức Huy và nhắc tới Đà Lạt khoảng năm 1944, khi nhạc sĩ ghé thăm lần đầu:

     “Nhưng trước khi leo lên được một nơi thần tiên là Đà Lạt, gánh Đức Huy - Charlot Miều tới hát ở Phan Rang.

     Những ngày lưu lại ở tỉnh này không có gì là đáng kể nếu tôi không có một kỷ niệm đẹp... Vào lúc tôi bước vào nghề hát, đã làm gì có báo chí chuyên môn loan tin về những hoạt động của kịch trường hay âm nhạc. Chưa có những vị phóng viên hay ký giả sân khấu để mình kín đáo bỏ vào túi họ tí tiền cà phê, nhờ họ viết bài quảng cáo, khen ngợi.

     Lúc đó chưa có một bài báo nào nói tới tôi hay nói tới những bài hát của Văn Cao cả. Nhưng tiếng đồn về anh du ca đầu tiên đi gieo rắc nhạc buồn đã được khá nhiều người trong mọi giới biết tới. Cho nên một hôm bỗng có xe hơi của ông tỉnh trưởng Phan Rang là Nguyễn Duy Quang tới rạp hát để đón tôi vào Dinh, giữa sự ngạc nhiên của nhân viên đoàn hát. Vào trong dinh tôi mới biết là có ông Bảo Đại đang ngồi ở đó. Ông thường trị vì tại Đà Lạt và đi bắn ở trong rừng nhiều hơn là ngồi trên ngai vàng tại Huế.

     Hôm nay ông từ một vùng săn bắn nào đó xuống chơi thành phố Phan Rang và nghỉ ngơi trong Dinh Tỉnh Trưởng. Tôi đã biết tới sự yêu nhạc của ông vua khi thấy ông đem người con trai của Thượng Thư Phạm Quỳnh là Phạm Bích vào làm bí thư riêng chỉ vì anh này đánh đàn guitare rất giỏi.”

     PHẠM DUY kể lại chuyện mình đàn hát cho vua Bảo Đại nghe tại Phan Rang: 

     “Đã không còn coi đối tượng là quan trọng nữa, đã chủ trương khi cất lên tiếng hát là hát cho mình nhiều hơn là hát cho người, nên tôi chẳng có một mặc cảm nào khi ngồi ôm đàn hát cho ông vua nghe. Ông Bảo Đại, rất lịch sự, rất nhã nhặn, sau khi nghe hát xong, ngồi mời tôi ăn bánh ngọt và nói chuyện với tôi bằng tiếng Pháp. Hỏi tôi học nhạc ở đâu? Từ bao giờ? Hơi ngạc nhiên khi thấy tôi trả lời là chẳng học ai cả! Hỏi thăm về ông Khiêm, về gia đình tôi. Một ông vua yêu nghệ thuật như vậy chắc chắn là đằng sau cặp kính đen mà ông thường đeo, có ẩn nấp một đôi mắt nhân từ. Ừ, đúng như vậy, trải qua bao nhiêu biến thiên của lịch sử, có nhiều kẻ quai mồm ra phê bình Bảo Đại là thế này thế nọ, nhưng tôi chưa thấy ai dám nói ông ta đã bỏ tù hay đã giết một người Việt Nam. Trong khi qua hai ba lần Cách Mạng quốc gia và quốc tế, có biết bao nhiêu người đã bị thủ tiêu hay bị cầm tù bởi những nhà lãnh đạo mệnh danh là yêu nước thương nòi...

     Xong buổi hát “vo” (theo tiếng nhà nghề là: hát không lấy tiền) khi tôi ra về, tỉnh trưởng Nguyễn Duy Quang tiễn tôi ra cửa, rất tế nhị, tay cầm sẵn một gói quà là 5 thước vải phin rất tốt để tặng anh ca sĩ trẻ tuổi. Với số vải này, tôi may được hai cái áo sơ-mi, một cái mặc cho tới khi rách, một cái sẽ tặng anh bạn thi sĩ Nguyễn Bính khi gặp anh ở Saigon một vài tháng sau để anh bán lấy tiền vào nằm tiệm hút. Về tới rạp và khoe là vừa hát cho vua nghe, cả gánh hát lắc đầu le lưỡi thán phục... Vài ngày sau, gánh hát giã từ Phan Rang, giã từ một miền có những cồn cát lớn và trắng toát như cảnh siêu thực ta chỉ thấy trong một giấc mộng đêm hè.”

     PHẠM DUY nói tiếp về chuyến thăm thành phố Đà Lạt thời đó và hết lời ca tụng phong cảnh thành phố:

     “Muốn lên Đà Lạt, hành khách phải đi tầu hoả từ ga Phan Rang chạy ra Tourcham để chuyển qua những con tầu có móc sắt (crémaillère) ở gầm xe thì mới leo tới nơi cách mặt biển 1.500 thước cao.

     Thành phố Đà Lạt quả là một nơi thần tiên. Khởi đầu là một bác sĩ người Pháp tên là Yersin, từ cuối thế kỷ thứ 19, sau khi dùng cả hai đường bộ và đường thủy để thám hiểm vùng phía Nam của miền Trung nước Việt, đã leo lên cuối dẫy Trường Sơn và tìm ra một bình nguyên có núi rừng hùng vĩ nhưng không hãi hùng hoang dã, có khí hậu hiền hoà và có đủ mọi loài hoa đua nhau nở như trong một mùa Xuân bất tận. Rồi Toàn Quyền Doumer nhìn thấy công ích của nơi lâm viên này để sau khi Bác Sĩ Yersin qua đời thì công cuộc xây dựng nơi nghỉ mát Đà Lạt được khởi sự vào năm 1923 và tới năm 1944 là lúc tôi tới đó thì đã có đầy đủ những cái làm nên Đà Lạt mà chúng ta gọi là Hồ Than Thở, Rừng Ái Ân, Thung lũng Tình Yêu...

     Đã được đi nhiều nơi trên đất nước nhưng tôi không thấy phong cảnh ở đâu đẹp như ở đây. Mang tinh thần vọng ngoại như hầu hết thanh niên thời đó, tôi sung sướng được tới một thành phố giống như ở Âu Châu. Tưởng mình đang ở Thụy Sĩ hay Đức Quốc. Đi trong mây, thở ra khói, nhìn núi rừng, nghe chim hót, ngửi mùi hoa... đó là tất cả những gì mà tuổi hoa niên mơ mộng có thể thực hiện khi tới Đà Lạt.

     Cạnh nhà ga Tourcham là ngôi tháp Hời chưa bị lâm vào cảnh hoang tàn nên hồng hào và sạch sẽ hơn cái tháp cổ lở lói ở Tuy Hòa rất nhiều. Gặp gỡ dòng dõi của Chế Mân, với con mắt họa sĩ, tôi mê mầu áo của những cô gái Chàm, khi thì là mầu hoa lý tươi, khi thì là mầu vàng anh nhạt, những mầu sắc không thấy có nhiều trên y phục của các cô gái Việt.

     Sau này tôi được Trung Tâm Điện Ảnh phái ra đây để quay phim vũ nữ Chàm, cầm quạt múa điệu padit (múa bướm) trước tòa tháp cổ. Và khám phá ra âm giai Chàm được dùng trong tọ tam ta ra (bài hát ân tình) là âm giai hơi oán Do Mi Fa Sol La, giống như âm giai trong Hát Bài Chòi hay của Vọng Cổ chứ không phải giống như âm giai trong Ca Huế.”

     Phải xin phép mới lên được Đà Lạt vào thời điểm đó vì nơi đây được coi là hoàng triều cương thổ:

     “Vào hồi đầu thập niên 40, người dân đen muốn tới thành phố Đà Lạt không phải là chuyện dễ dàng đâu! Phải làm đơn xin phép và chờ Sở Mật Thám điều tra rồi ba tháng sau mới có giấy đi. Thường thường chỉ là giấy cho phép tới nơi nghỉ mát (villégiature) này trong một thời hạn nào đó. Nếu muốn tới làm ăn sinh sống ở Đà Lạt thì lại một chuyện khác, một chuyện khó khăn vô cùng. Người Pháp thành lập ra thắng cảnh Đà Lạt để dành riêng cho người da trắng. Gánh Đức Huy lên Đà Lạt dễ dàng vì anh Chúc đã đút tiền cho Sở Cảnh Sát rồi.

     Tại Đà Lạt, gánh hát Đức Huy cư ngụ và trình diễn ở rạp Ngọc Hiệp trên đường Cây Quẹo. Người bạn mới của tôi là Lê Xuân Ái, tác giả của những bài Hồn Nam Tướng, Chinh Phụ Hoài Khúc, Thiên Lý Mã, Huyền Trân Công Chúa, Con Thuyền Trên Sóng... và có chân trong ban nhạc của Năm Lành, em vợ (vợ bé) của một triệu phú miền Nam là ông Đội Có.

     Nghệ sĩ tài hoa Lữ Liên (trong ban A.V.T.) cũng đang làm việc tại Nha Công Chánh Đà Lạt. Nguyên là cầu thủ đá banh của đội banh vô địch Đông Dương là Cotonkin, Lữ Liên, cũng như số đông thanh niên thời đó, ưa thích cuộc đời giang hồ và đã Nam Tiến từ năm 1942. Tại Đà Lạt, Lữ Liên hoạt động trong ban kịch tài tử rồi làm việc tại Đài Phát Thanh ở đó trước khi vào Saigon, trở thành người thăng hoa loại nhạc hài hước mà người khởi đầu là Trần Văn Trạch.”

     PHẠM DUY kể lại những hương vị ái tình của mình trong những chuyến ghé thăm Đà Lạt về sau này để kết thúc bài viết về kỷ niệm với Đà Lạt thuở xa xưa:

     “Sau này, tôi có tối thiểu hơn mười lần đi về chốn cao nguyên Đà Lạt. Lần nào cũng nằm tròn trong vòng tay ân ái của một người tình. Một người giúp tôi soạn nổi rất nhiều câu hát ái tình, từ... ngày đó có em đi nhẹ vào đời... cho tới... nghìn trùng xa cách người đã đi rồi... Và có đầy đủ những kỷ niệm tươi vui hay buồn bã nhưng tất cả những nỗi hân hoan hay ủ rũ cũng đều không se sắt hay nặng nề mà chỉ êm đềm như mầu trăng đã ấp ủ tôi vào những đêm đầu tiên tới Đà Lạt này. Một mầu trăng đã đến từ lâu với nhà thơ Hàn Mặc Tử:
“Cả trời say nhuộm một mầu trăng
Và cả lòng tôi chỉ nói rằng
Không một tiếng gì nghe động chạm
Dẫu là tiếng vỡ của sao băng...”

(Trích: “ĐÀ LẠT NGÀY THÁNG CŨ”
Soạn giả: LS. Ngô Tằng Giao)

1.dalat.jpg - 117.83 Kb

Bạn đang theo dõi trang: Đà Lạt Ngày Tháng Cũ Hồng Thủy & Phạm Duy _ (Đà Lạt Ngày Tháng Cũ _ #38)