Hà Bỉnh Trung & Lê Văn Phúc _ (Đà Lạt Ngày Tháng Cũ _ #39)

  • PDF

180625_1446447741111_1830704196_800916_1520358_n.jpg - 209.68 Kb

TÌNH YÊU NHƯ BÓNG MÂY
  
  
     Đà Lạt xưa kia giống như một thiếu nữ tuổi xuân thì, dáng đài các, đã từng làm siêu lòng biết bao nhiêu là văn sĩ, thi sĩ, nhạc sĩ, họa sĩ và cả nhiếp ảnh gia nữa… Thật quyến rũ. Thật đắm say. Ghé thăm Đà Lạt để rồi khi chia tay nhau lại bịn rịn. 

     
     KHÁNH GIANG năm 1959 viết về “Đà Lạt với du khách” đã nói:

     “Bạn có sống qua những ngày lặng lẽ u buồn ở Đà Lạt, có ngắm qua những buổi hoàng hôn nhuộm đỏ cánh đồi, có ngồi thu mình nhìn qua giọt mưa nặng trĩu rơi trên cửa kính, có dịp trầm ngâm cô độc say mê theo khói thuốc và hương vị tách cà phê phin đen ngòm, có lủi thủi dưới làn mưa bụi về đêm, có nện gót giày đều đều trên đường phố hoang vắng, có sống qua những giờ phút trống rỗng của cuộc đời và lòng có mang ít nhiều kỷ niệm đau thương, bạn mới cảm được cái “tâm hồn” sâu xa và thấm thía của Đà thành. Và lúc ấy, bạn khó lòng mà rời Đà Lạt được nữa.” 
    
     Tình yêu với Đà Lạt thật muôn vẻ. Khi thì lặng lờ như mặt nước hồ thu êm dịu hay cuồng nhiệt như những bọt nước trắng xóa của thác nước bên đèo. Khi thì giăng mắc như sương khói phủ trên khắp cánh rừng thông. Khi thì tan biến vào thinh không theo tiếng chuông chùa Linh Sơn... tiếng chuông nhà thờ Con Gà... Tình yêu vang vọng và lan đi để rồi hội nhập vào núi đồi Đà Lạt mỗi buổi sáng sớm khi mặt trời còn khuất dạng...

     Phải chăng đối với những ai đã từng sinh trưởng tại Đà Lạt, hay đã có một thời gian dài sinh sống tại đây hoặc chỉ là du khách ghé thăm thành phố trong ít ngày thời Đà Lạt của những ngày tháng cũ đã để lại trong tận cùng tâm khảm con người những niềm thương nỗi nhớ sâu đậm và thiết tha… như suối nguồn tuôn chảy. Nói hoài không hết!

     Sau đây chỉ thâu thập và ghi lại được một phần nào cái tình cảm thương yêu và nhớ nhung đó mà thôi! Mỗi người một vẻ! Tình yêu với Đà Lạt bồng bềnh như bóng mây, một thời đã hội tụ quyến luyến trên bàu trời thành phố cao nguyên thời nay lại man mác dàn trải ra khắp cả bốn phương trời… Nỗi nhớ khôn nguôi!

HÀ BỈNH TRUNG

     Từ nơi đất khách xa xôi nhà văn, nhà thơ HÀ BỈNH TRUNG với bút hiệu HỒNG BẢO, viết lại biết bao kỷ niệm xưa của mình với Đà Lạt trong thời trai trẻ khi còn khoác chiến y, tính ra đã hơn nửa thế kỷ: 

     “...hình ảnh cũ xưa của Đà Lạt một thời thơ mộng (1953-1955), thời tuổi trẻ mà tôi đã sống, vẫn còn in trong trí óc, tưởng không bao giờ có thể quên được.

     Thấm thoắt đã gần nửa thế kỷ trôi qua từ ngày tôi đáp xe lửa ở ga Mường Mán lên Đà Lạt trên con đường sắt dốc thoai thoải, có một đường răng cưa ở giữa, giữ cho xe lửa khỏi tụt lùi. Đêm đó quá nửa khuya tàu mới lên tới ga Đà Lạt. Một đoàn xe nhà binh đưa chúng tôi về trường Võ Bị trong khu Chi Lăng. Sau một tháng huấn luyện kỷ luật, các sinh viên sĩ quan mới được phép xuất trại để làm quen với thành phố cao nguyên, và sau đó cứ mỗi cuối tuần, được ra phố thăm thú dân tình và danh lam thắng cảnh. 

     Thời đó, các anh lính mới học trường Võ Bị Liên quân Đà Lạt thực có giá, được trọng vọng ngoài sức tưởng tượng. Chưa gì các anh tài xế tắc-xi đã tôn xưng “các cậu” là “quan”, khiến “các quan” thấy cũng ngượng ngùng. Trong những buổi đi tập, ngày nào cũng đi qua trại chăn nuôi Farraut nhìn đàn bò sữa giống ngoại mập mạp. Khi thì qua lầu Viên Các (La Rotonde), khi qua miếu nhỏ (Pagodon) khi đua nhau leo lên ngọn núi 1.500 thước cao độ. Rồi vào đồn binh Dassar, qua Rừng Ái Ân (Bois d'Amour - tên Tây đặt thực quyến rũ), Hồ Than Thở (Lac des Soupirs), những địa danh rất hay, rất kêu và rất thơ mộng, lãng mạn, dễ gây cảm hứng cho những người có tâm hồn đồng điệu viết văn, làm thơ, và làm nhạc.

     Mùa hoa thì không thiếu gì chủng loại: nào mi-mô-da màu vàng thơm dịu, nào hoa anh đào (cherry) mọc hai bên đường cái, nào hoa đào (loại hoa giống đào miền Bắc, nhưng cây và cành thẳng tắp không uốn cong co, không có dáng dấp mỹ thuật như đào Quảng Bá) nào hoa Lay-ơn, hoa cẩm chướng, hoa hồng đủ màu sắc, hoa cúc đại đóa v.v... và nhất là “hoa biết nói” với đôi mắt đen sáng, cặp má hồng, đôi môi đỏ, da trắng mịn, điểm thêm cặp trường mi xanh mướt. Con gái Đà Lạt quả đã được ơn Trên ban phước.

     Du khách cũng đôi khi ngỡ ngàng trông thấy một đoàn người Thượng, độ 6, 7 người, đi đầu là một vị đứng tuổi, tay cầm ống điếu, mình mặc áo tây (veston), nhưng bên dưới “đóng khố”. Phần nhiều đàn ông mặc tương tự, còn phụ nữ mặc váy dài, nhưng phía trên không có trang phục gì cả. Họ rất tự nhiên, sống dản dị, không mặc cảm.

     Thời tiết thực lý tưởng. Mùa hè mát mẻ dễ chịu, mùa lạnh không dưới 4 độ C, rất thuận lợi cho du khách đi bộ ngắm cảnh. Ngày nghỉ, còn thú gì bằng thong thả dạo bước đi quanh khu chợ Hòa Bình ngắm mấy cửa tiệm, nhỏ nhưng rất mỹ thuật, bán hàng xa xỉ, một vài tiệm bán sách báo, bán tạp hóa. Đêm tối ghé vào tiệm ăn tàu Mékong, hoặc tiệm ăn tây Chic Shanghai với món súp đặc biệt nấu “phó mát bỏ lò” (soupe au fromage gratiné). Rồi ghé hộp đêm Croix du Sud (Nam Đẩu) nghe nhạc khiêu vũ. Khuya ra về, la cà đến ăn tô mì nóng của các xe bán rong ở lề đường, hoặc ghé tiệm cà phê - phở Jockey, trên đường dốc xuống chợ Ngọc-Hiệp.

     Đà Lạt là một nơi nghỉ mát, một thành phố mới có nhiều nhà cửa đẹp, bằng gỗ (kiểu Chalet) hoặc bằng gạch ngói đỏ (kiểu villa) trông hơi giống vùng Provence hay Savoie ở Pháp…

     Những hôm Đà Lạt có sương mù tỏa rộng khắp nơi, ngồi ở trong quán cà phê nhìn ra, thấy quang cảnh cuộc đời thật huyền ảo, thần tiên, thoát tục. Nếu ở Mỹ họ bảo tiểu bang Virginia là của những Người Tình, thì tôi cũng có thể nói Đà Lạt là nơi lý tưởng của những người yêu nhau.”

     Từng đến với Đà Lạt để rồi lại phải rời xa Đà Lạt, khi có dịp trở lại chốn cao nguyên này HÀ BỈNH TRUNG đã dàn trải tiếng lòng thổn thức của mình thành vần thơ “Trở về Đà Lạt thương yêu”:

“Rừng cao trắng xóa bụi mưa,
Lũng sâu mờ nhạt sương vừa bay tan.
Có ai đẵn gỗ trên ngàn
Nghe như thúc giục nỗi hàn trong ta.
Hoa đào Đà Lạt tháng Ba
Mỗi năm nhuộm đỏ đường xa thắm đầy.
Quân trường gió lộng cờ bay
Tuổi xanh đã gửi những ngày còn xuân.
Em đi còn lại dấu chân
Ta về nhớ dáng thanh tân hảo cầu:
“Quan quan thư cưu,
Tại hà chi châu...”
Dốc quanh Cầu Quẹo nặng sầu
Nhà xưa kín cổng còn đâu bóng người.
Qua hồ Than Thở còn ai
Qua rừng Ân Ái nắng phai nhạt nhòa.
Vườn dâu, rừng mận, nương hoa,
Vì sao ta vẫn thiết tha cảm tình?
Tại sao khu chợ Hòa Bình
Vẫn còn quyến luyến với mình, tại sao?
Một thời Xuân đã đổi trao
Thì nghe nước đổ thác trào cũng thương.
Một thời Xuân có yêu đương
Thì trông núi đọng màn sương cũng vì.
Lặng nghe dòng thác Cam Ly,
Nhớ về dòng tóc người đi dịu hiền.
Nhớ về người Thượng hồn nhiên,
Nhớ thương núi đỏ Cao Nguyên ngàn trùng.”   

     Rồi đến khi mái tóc thi nhân đã ngả màu bạc trắng, Đà Lạt năm nào chỉ còn là kỷ niệm xa vắng. Nhà thơ viết bài “Đà Lạt xa xưa”:

“Đà Lạt ơi! Đà Lạt ơi!
Đã xa, xa vắng khung trời ái ân.
Cố nhân ơi! hỡi cố nhân!
Đã xa, xa quá những lần hẹn nhau.
Một ngày xa cũng thấy đau,
Huống chi đời đã nhuộm màu thời gian
Tóc xanh ngả trắng sương hàn
Tình xuân cũng nhạt phai tàn màu xanh.
Núi Lăng-Biên! hỡi thác ghềnh!
Đà Lạt ơi! một chút tình còn không?
Hồ Than-Thở nhớ rừng thông,
Nhớ em phơi mái tóc bồng gió hanh.
Quê nghèo than cuộc chiến tranh
Đã quên em, đã xa anh lâu rồi!
Đà Lạt ơi! Đà Lạt ơi!
Cố nhân đã khuất, mây trời nhẹ bay...”

     Nỗi nhớ nhung gia tăng với thời gian, nhất là một ngày nào đó thi nhân đã chẳng còn tìm thấy cảnh cũ lẫn người xưa, mà chỉ thấy chập chùng hình bóng lạ nơi đất khách quê người. Nhà thơ viết bài “Nhớ về Đà Lạt” với bao kỷ niệm của 40 năm trước:

“Hồ Xuân Hương cũ phải chăng đây,
Mà nước gương lồng lộng bóng mây?
Đà Lạt tưởng chừng như thoáng hiện,
Mắt ai như lệ nhỏ vơi đầy.
Lá thông reo xào xạc,
Trời đỏ chiều bóng ác
Đang lặn. Vòm cây rực ánh vàng,
Xuân đã qua rồi, hạ đã sang...
Rừng Ái Ân xưa chợt hiện?
Mộng vàng tan biến,
Người xưa nào thấy dáng kiều nhi?
Bụi hồng lãng đãng ngày đưa tiễn
Đã lắng. Chôn sầu, viễn khách đi...
Hồ ơi! Rừng hỡi! Còn chi?
Mà sao vẫn nhớ những gì thật xa.
Bốn mươi lần đã xuân qua
Ngồi đây, mà tưởng như là vừa đây.”

 

LÊ VĂN PHÚC

     LÊ VĂN PHÚC tự xưng mình là Cai Phúc với lời văn rất dí dỏm thuật lại nhiều chuyện xưa tại Đà Lạt khoảng trước năm 1955 khi mình còn là một anh lính trẻ tuổi với một tâm hồn vui nhộn:                                                                       

     “Cái thuở Cai tôi vào Đà Lạt làm lính nhà vua thì ôi thôi, như cá gặp nước ngọt, như mây gặp rồng, ô mê ly đời ta, sung sướng không thể chịu được. Bạn nào từng sống trên miền cao nguyên Trung Phần trong khung cảnh Lâm Viên, hẳn không thể nào quên được những cảnh thơ mộng, lãng mạn, tuyệt cú mèo của xứ hoa đào.

     Khí hậu thì mát mẻ quanh năm, đồi núi chập chùng vây quanh thành phố mộng mơ, thông reo vi vút, suối chảy thác reo, hoa lá muôn mầu khoe tươi khoe sắc. Nhất là dịp Tết, hoa anh đào nở rộ một khung trời thần tiên, ai tới cũng tưởng như mình lạc vào chốn Thiên thai, quên khuấy cả lối về trần là quốc lộ Saigon - Dalat.

     Thắng cảnh cao nguyên rất là tình tứ nên thơ. Có những cái tên dễ yêu dễ nhớ như: suối Cam Ly, thác Prenn, hồ Than Thở, rừng Ái Ân, đèo Ngoạn Mục... Có những tà áo, những bộ đồng phục gợi cho ta nhiều kỷ niệm học trò Yersin, Couvent des Oiseaux, Bùi thị Xuân... khi đợi chờ “em tan trường về” những chiều nhạt nắng. Có những tên phố, tên tiệm, quán kem, rạp xi-nê, nhà sách nằm sát nhau quanh một ngọn đồi cao, giống như những chân của một con bạch tuộc nơi khu phố chợ sầm uất của thành phố trên đất “Hoàng triều cương thổ”.

     Mà điều thú vị, độc đáo nhất là con gái Đà Lạt, cô nào cũng má đỏ hây hây dù không son phấn tô hồng. Các cô nàng mặc áo dài, phủ ngoài bằng chiếc áo len ngắn tay gọn gàng, gọi là “áo bolero” mầu hồng, mầu tím, mầu vàng nom thật dễ thương. Lại có em e ấp trong chiếc nón bài thơ, che nghiêng khuôn mặt trái soan, mắt sáng môi xinh, rõ ra cái tuổi xuân thì...”

     Đó là nguyên do khởi đầu châm ngòi cho các chuyện quậy phá đầy tính cách “văn nghệ” của anh lính trẻ tên Cai Phúc thuở xưa:

     “Thì cũng đúng vào thời điểm ấy, Cai tôi xuất hiện trong khung cảnh thần tiên, giữa một trời hoa xuân khoe sắc thắm.

     Nhờ được trang bị từ hồi tiểu học, Cai tôi đã biết võ vẽ vài ngón đờn như: mandoline, banjo, sáo, guitar... và dăm chục bài ca theo điệu quân hành, điệu “sì-lô” nên khi đăng lính được bổ sung ngay vào Ban Văn Nghệ Phòng 5/NLQ. Bọn lính văn nghệ chúng tôi mới đề nghị lên thượng cấp một chương trình phát thanh mệnh danh “Tiếng Nói Ngự Lâm Quân”, mỗi tuần phát thanh 45 phút vào chiều thứ Năm. Thế là bọn lính văn nghệ có cơ duyên làm quen với các cô thích văn nghệ văn gừng, và các em nữ sinh trung học muốn trở thành danh ca trên làn sóng điện.

     Trong số lính văn nghệ, phần đông đã có gia đình hoặc có ông hơn chúng tôi cả 5, 10 tuổi, nên không có sự cạnh tranh, kèn cựa nhau vì đào. Chỉ có là ông nào lớn tuổi thì tự động chọn đào già. Còn bọn tôi vài đứa bao thầu đám đào trẻ, mầm non văn nghệ. Nhờ trời thương thánh độ, phúc đức ông bà để lại mà Cai tôi có một lúc tới... ba cô em gái hậu phương. Sở dĩ con số tăng vọt như thế là vì Cai tôi chuyên trị vụ đưa đón các em lên Đài tập hát bằng phương tiện xe Dodge 4 (gọi là xe Đốt Cát - theo tiếng Tây). Mấy tên bạn kia làm biếng nên chúng nó “nhường” hết cho tôi quản trị các em.

     Em nào tôi cũng đối xử rất đình huỳnh. Là lính không có dư dả tiền bạc, chỉ đủ trả tiền cơm tháng ngoài chợ và mua quà vặt tặng các em thôi. Nên khi muốn tỏ tình như các hiệp sĩ thời trung cổ, tôi thường tặng hoa. Nhưng vì túi không tiền nên tôi đành phải muối mặt đi hái trộm hoa. Tôi lựa những đêm tối trời, đi lủi thủi dọc con đường Phan đình Phùng, Hoàng Diệu, biết nhà nào trồng hoa, có hoa đẹp là tôi vặt hoa xong chạy nước rút. Có lần tôi bị chủ nhà rình, vừa mới ngắt được một cành hoa, đã bị rượt bắt. Tôi phải chạy chối chết, còn hơn là chạy thế vận “Ô-lanh-pích”. May mà thoát chết chứ không cũng bị què cẳng què giò!”

     Âm mưu “hành quân” để tấn công ái tình được hoạch định khá chu đáo theo đúng “chiến thuật chiến lược” trong sách vở nhà binh mà chàng Cai Phúc đã thuộc nằm lòng:    

     “Trong số 3 nữ sinh, tôi yêu nhất là một em. Ngày tôi 20 tuổi thì em mới 16 cái trăng tròn, sinh trưởng tại Đà Lạt. Em xinh em bé tên là Kim Nhan. Mấy anh em nàng đều cỡ vô địch bóng bàn miền Trung. Có lần nàng tranh giải chung kết, tôi ở đâu tạt vào coi. Nàng đang hơn điểm đối phương mà thấy tôi, nàng đỏ mặt, đâm ra loạn chiêu, vụt banh ra ngoài mấy trái liền. Tôi phải di tản chiến thuật ngay lập tức kẻo nàng mất chiếc cúp hạng nhất.

     Quen nhau đâu chừng nửa năm, tôi cứ thấp thỏm làm sao rủ được nàng đi chơi một bữa cho tình thành mộng. Thế rồi tôi hò hẹn được với nàng, gặp nhau bên bờ hồ Xuân Hương, cạnh chiếc cầu soi bóng, lối lên dốc nhà thờ. Được lời như cởi tấm lòng. Tôi phải ra công chuẩn bị chu đáo điểm hẹn.

     Công tác đầu tiên là “tiền đâu”? Tôi không có tiền, chỉ có tình là đầy ắp. Thế nên, tôi phải áp dụng phương pháp Lỗ Bình Sơn ở trong rừng, đi thám sát địa thế xem chỗ nào xa nhân gian, kín đáo, an toàn để làm nơi hò hẹn. Kiếm được một chỗ hũng sâu trong bờ, tôi kiếm vài tờ báo lót chỗ trũng rồi trải lá thông ngụy trang, nom rất là tự nhiên, tươm tất.

     Buổi chiều bữa hẹn, tôi tới sớm đợi em dưới gốc thông già. Chừng nửa tiếng sau, “em xuất hiện như vì sao lạ, từ nơi mờ tối cảnh trần gian, ở đó tôi luân lưu gần tuyệt vọng” - thuổng thơ Mai Trung Tĩnh - trong dáng đi ngập ngừng, e thẹn. Trời chiều đã bảng lảng bóng hoàng hôn, còn tôi như người say rượu, ngất ngây tưởng sắp lạc lối thiên đường.

     Gặp nhau riêng tư lần đầu, chúng tôi lúng túng không biết nói năng gì. Tôi dìu nàng đi theo ven hồ, bước chân chiều chủ nhật. Tôi nắm tay nàng, bàn tay ấm lạ thường, thấy nàng “run run như thần tử thấy long nhan”, còn mình thì cũng “trống ngực thùm thụp như trống làng”. Đúng ra phải nói: “Run run như Cai Phúc thấy Kim Nhan”. May nhờ có tí máu nhà binh nên tôi mạnh dạn hơn, dìu nàng chực chỉ chỗ đóng quân. Tới nơi, tôi kéo nàng ngồi gần vị trí phòng thủ, nói là để ngắm cảnh hồ lúc chiều tàn. Nàng e ấp, ngại ngùng như nghi kỵ điều chi khó tả! Mấy phút đầu tiên ấy trôi qua, chúng tôi ngồi im lặng nắm tay nhau, nhìn mặt hồ trong cảnh chiều tà. Trong khoảnh khắc, tôi bỗng như bị động kinh hay điện giật, lên cơn sốt cấp tính, ôm choàng lấy cô bé, đè ngửa xuống hố cá nhân, hôn lấy hôn để. Chỉ thiếu chút xíu nữa là tôi mang tội... cưỡng dâm!

     Cô bé bỗng dưng bị đè nghiến ra, chẳng còn vẻ gì gọi là thơ mộng, du dương nữa. Theo phản ứng tự nhiên của người không biết võ, nàng xô tôi ra, đấm ngực tôi thùm thụp, vùng đứng dậy đòi về. Nàng vừa run sợ, vừa khóc vùi coi rất tội nghiệp... Còn tôi thần hồn nát thần tính, chưa qua cơn mê nên tâm trạng bấn loạn không biết xử sự ra sao. Nhưng tôi còn đủ thông minh, tỉnh trí để nhận định rằng tình thế đã đổi ngược, chỉ còn cách duy nhất là rời chỗ trú quân, dìu nàng ra con đường cái quan ven hồ để nàng vừa lau mắt vừa ngậm ngùi lên con dốc. Tôi trông theo cho đến khi nàng khuất bóng, trong niềm mất mát không tên và một trời tiếc ơi hùi hụi...

     Cuộc gặp gỡ ngắn ngủi, thiếu phần bố cục, thiếu tâm lý ái tình, thiếu tiện nghi tối thiểu và thiếu nhiều kinh nghiệm ấy đã khiến tôi, sau mấy chục năm vẫn còn nhớ người xưa, vẫn còn ân hận và tiếc nuối trong lòng... Tôi phải đấm ngực nhận rằng: Lỗi tại tôi, lỗi tại tôi mọi đàng!

     Sau cuộc hẹn hò tan vỡ ấy, năm 1955 Ngự Lâm Quân giải tán và đổi lên Ban Mê Thuột. Gặp nhau lần chót, nàng nói học xong trung học, nàng sẽ theo ngành Nữ Hộ Sinh Quốc Gia. Từ đó, kẻ góc biển, người chân mây không biết đâu mà mò nữa. Người con gái dễ thương ấy đã yêu tôi bằng tất cả chân tình, bằng khối óc con tim, chắc bây giờ nàng vẫn nhớ kỷ niệm đầu đời. Người xưa đâu? Tôi vẫn tự hỏi câu ấy.”

     Anh cai trẻ giờ đây chắc đã lên tới chức “cụ Cai”. Xin hãy lắng nghe “cụ Cai” LÊ VĂN PHÚC vuốt mái tóc bạc ngậm ngùi thổ lộ:

     “Bây giờ, chúng tôi ai cũng già rồi. Nếu có dịp gặp nhau, tôi chắc nàng không nhận ra một ông già đi đứng lừng khừng, mắt mờ, chân chậm, nói năng phều phào... Đâu còn vẻ gì là vóc dáng thư sinh, văn nghệ văn gừng, phong độ lực sĩ điền kinh từng đi hái trộm hoa của những ngày xưa Đà Lạt!”

(Trích: “ĐÀ LẠT NGÀY THÁNG CŨ”
Soạn giả: LS. Ngô Tằng Giao)

1.dalat.jpg - 117.83 Kb

Bạn đang theo dõi trang: Đà Lạt Ngày Tháng Cũ Hà Bỉnh Trung & Lê Văn Phúc _ (Đà Lạt Ngày Tháng Cũ _ #39)