Nguyễn Quí Nhơn, Lê Thị Ý & Nguyễn Xuân Hoàng _ (Đà Lạt Ngày Tháng Cũ_#44)

  • PDF

2.dalat1.jpg - 463.96 Kb

TÌNH YÊU NHƯ BÓNG MÂY
  
  
     Đà Lạt xưa kia giống như một thiếu nữ tuổi xuân thì, dáng đài các, đã từng làm siêu lòng biết bao nhiêu là văn sĩ, thi sĩ, nhạc sĩ, họa sĩ và cả nhiếp ảnh gia nữa… Thật quyến rũ. Thật đắm say. Ghé thăm Đà Lạt để rồi khi chia tay nhau lại bịn rịn. 

     
     KHÁNH GIANG năm 1959 viết về “Đà Lạt với du khách” đã nói:

     “Bạn có sống qua những ngày lặng lẽ u buồn ở Đà Lạt, có ngắm qua những buổi hoàng hôn nhuộm đỏ cánh đồi, có ngồi thu mình nhìn qua giọt mưa nặng trĩu rơi trên cửa kính, có dịp trầm ngâm cô độc say mê theo khói thuốc và hương vị tách cà phê phin đen ngòm, có lủi thủi dưới làn mưa bụi về đêm, có nện gót giày đều đều trên đường phố hoang vắng, có sống qua những giờ phút trống rỗng của cuộc đời và lòng có mang ít nhiều kỷ niệm đau thương, bạn mới cảm được cái “tâm hồn” sâu xa và thấm thía của Đà thành. Và lúc ấy, bạn khó lòng mà rời Đà Lạt được nữa.” 
    
     Tình yêu với Đà Lạt thật muôn vẻ. Khi thì lặng lờ như mặt nước hồ thu êm dịu hay cuồng nhiệt như những bọt nước trắng xóa của thác nước bên đèo. Khi thì giăng mắc như sương khói phủ trên khắp cánh rừng thông. Khi thì tan biến vào thinh không theo tiếng chuông chùa Linh Sơn... tiếng chuông nhà thờ Con Gà... Tình yêu vang vọng và lan đi để rồi hội nhập vào núi đồi Đà Lạt mỗi buổi sáng sớm khi mặt trời còn khuất dạng...

     Phải chăng đối với những ai đã từng sinh trưởng tại Đà Lạt, hay đã có một thời gian dài sinh sống tại đây hoặc chỉ là du khách ghé thăm thành phố trong ít ngày thời Đà Lạt của những ngày tháng cũ đã để lại trong tận cùng tâm khảm con người những niềm thương nỗi nhớ sâu đậm và thiết tha… như suối nguồn tuôn chảy. Nói hoài không hết!

     Sau đây chỉ thâu thập và ghi lại được một phần nào cái tình cảm thương yêu và nhớ nhung đó mà thôi! Mỗi người một vẻ! Tình yêu với Đà Lạt bồng bềnh như bóng mây, một thời đã hội tụ quyến luyến trên bàu trời thành phố cao nguyên thời nay lại man mác dàn trải ra khắp cả bốn phương trời… Nỗi nhớ khôn nguôi!

NGUYỄN QUÍ NHƠN

     Hồi ký của nhà giáo NGUYỄN QUÍ NHƠN viết về Đà Lạt những ngày tháng cũ của năm 1950, thật thiết tha tình cảm:

     “Đầu thập niên 50, gia đình tôi cư trú thường xuyên tại Hôtel du Parc Dalat do tình bạn hữu của thân phụ tôi và ông D'Ors (chủ nhân người Pháp của cả khách sạn lớn nhất Langbian Palace đối diện với hồ Xuân Hương nằm phía dốc trước mặt) đã dành mọi sự dễ dãi cho chúng tôi. Thường mỗi sáng thứ bẩy, chúng tôi lại lên đường xuống Blao cùng với ông D'Ors sang thăm đồn điền trà rộng bát ngát Da Ampin của dì tôi có chồng người Pháp tại đó.     

     Cứ đều đều như vậy, tôi đã quen dần với lối sống giữa rừng sâu núi thẳm vì đồn điền của dì tôi nằm khá sâu dọc ven đồi trà đi mãi vào sóc Thượng ở xa tít. Nào suối, nào ghềnh chảy xiết qua những cụm rừng thông bao quanh ngôi nhà sàn bungalow một từng nằm soải dài giữa khu rừng âm u. Dì tôi trồng cây ăn trái và đủ loại hoa mọc chi chít chung quanh vườn. Quang cảnh đẹp nên thơ, nhất là vào giữa buồi trưa ánh nắng tràn ngập sân thượng nơi chúng tôi cùng dì sửa soạn buổi ăn trưa. Gió hây hây lạnh, có tiếng chim sơn ca hót từ xa, tiếng ve sầu âm u dội lại. Thỉnh thoảng tiếng tắc kè rừng rúc vang lên một hồi rồi tan biến mất trong sự tĩnh mịch hoàn toàn. Đàn bướm nhỏ đủ mầu sắc lượn chung quanh. 

     Dì tôi thường mỗi sáng hay cỡi ngựa đi thăm các nơi hái trà, dừng lại thăm hỏi các gia đình đồng hương làm nhà máy ướp trà và các đồng bào Thượng hái trà chung quanh. Bà rất đẹp, da trắng, má ửng hồng như lai, trong bộ sắc phục các kiều nữ Amazone, giầy ống cao, tóc búi nằm gọn dưới nón kiểu chăn bò vùng Texas, roi điện cầm tay để phi ngựa dễ dàng. Tôi đã học ở dì cách cỡi ngựa sao cho nhẹ nhàng và di chuyển mau lẹ. Dì cũng dạy tôi học đầu tiên những chữ của Thượng ngữ Koho mà dì nói rất thông thạo vì sống bao năm bên cạnh núi rừng. Tôi còn nhớ dì nhắc mãi bên tai: “Này nhé! Cháu phải nhớ kliu là cọp; Đà là nước; Lọt-drà là đi chợ v.v...”. 

     Xế trưa dì lại lái chiếc 4x4 chở chị em tôi và hai cô gái lai con của dì ra chợ Bảo Lộc ăn thêm mì quảng và uống cà phê Bảo Lộc vì thường thường, dì hay nấu cơm Tây cho chồng con, nhưng riêng dì lại thích ăn đồ Việt: nào bún thang, bánh cuốn, bánh hỏi thịt rừng nướng và nhất là phở Bắc ở nhà gare Dalat mà mỗi khi lên ấy, làm tóc xong, dì lại ra đón chị em tôi tan trường về và cách đó sang ăn phở nhà gare không xa mấy.

     Có những trưa hè nắng vàng êm ả, tiếng ve sầu nức nở cả khu rừng, dì tôi lại thoáng buồn nhớ đến quê ngoại miền Bắc. - “Bố mẹ mày bỏ dì vào Nam từ lúc dì còn bé, một mình ở lại với bà”. Thế rồi dì oà lên khóc, ngày nay những giọt nước mắt lại chan hòa theo giòng lệ tuôn đôi má tôi khi viết những giòng chữ này. Dì đã dạy tôi hát những bài hát đầu tiên đầy trữ tình yêu quê hương: Làng Tôi, Lời Người Ra Đi, Sơn Nữ Ca, Ngày Trở Về... Ngày ấy tôi đã biết đệm tây ban cầm cùng với cô em họ lai phụ họa trên phím đàn dương cầm bên cạnh, xen kẽ với những bài La Plus Belle Nuit, Domino, Impossible. Các cô sơn nữ Koho hái hoa rừng về, dừng lại bên giòng suối nhỏ bên thềm nhà để lắng nghe, miệng cười tủm tỉm.

     Có những lúc tôi bắt gặp dì một mình thơ thẩn dọc theo giòng suối nhỏ, tay nhặt những hòn đá sỏi còn hâm hấp mùi đất nóng, rồi dì lại rắc từng viên vào những khe nước chảy róc rách, mắt đăm đăm buồn man mác. Dì lúc nào cũng mơ ước được trở về quê cha đất tổ tại miền Bắc. Chúng tôi quê quán Bắc Ninh, đất nổi tiếng về người đẹp và lối hát Quan Họ mà dì tôi có một thời lừng danh với các chị em khác trong làng với giọng ca đó.

     Dì nói tiếng Pháp nhỏ nhẹ như đầm và được các con dạy cho cách đọc, viết. Những lúc buồn dì hay đọc sách báo. Tôi còn nhớ vào những đêm trăng sáng, rừng âm u, sương đọng mờ cả kính, dì thường kể cho chúng tôi nghe những truyện đường rừng của Lê Văn Trương hay chuyện tình không dứt trích trong tạp chí hàng tháng thời đó: Chuyện Chúng Mình, Nous Deux. Có điều đáng tiếc là các cô em họ tôi chỉ nghe hiểu lõm bõm tiếng mẹ đẻ, nói lại càng ú ớ hơn vì cả hai cô đều được dì tôi gởi học nội trú trên Dalat, mỗi tháng mới về một lần. Cứ hai tuần dì lại lái xe lên thăm và ở trên ấy bên cạnh gia đình tôi hai ba hôm.”

     Mãi về sau này, vào năm 2003 giáo sư Mỹ - Mễ NGUYỄN QUÍ NHƠN từ biên thùy Jaca còn mê say viết thêm về Đà Lạt với tiếng lòng vẫn còn âm hưởng rộn rã như tự thuở nào:

     “Riêng Dalat đến với tôi đầy thơ mộng ái tình dây dứt mãi không phai khi có cuộc trại hè của ba viện Sài gòn – Dalat - Huế và những đêm sáng trăng trên đồi lữ quán thanh niên tôi đã từng làm say mê các bạn họp trại với tiếng đàn và giọng hát qua những nhạc phẩm ưa chuộng vào thời đó như “Anh đi về đâu”, “Domino”, “Besame mucho”. Rồi những cuộc tình chớm nở… tôi và cô sinh viên sư phạm Sài gòn lúc nào cũng yêu cầu tôi đệm đàn cô mới chịu hát, hay sau này tôi thường lên xuống vùng cao nguyên vì lỡ đã yêu một cô nghệ sĩ làm tại vũ trường Hoa Tuy-líp Đỏ bên hông chợ Hoà Bình.

     Tình đã đẹp cảnh còn quyến rũ hơn. Suốt 20 năm trời từ khi rời quê hương, tôi đã mòn mỏi tìm dấu vết của một Dalat mờ sương đầy mơ mộng. Từ Hoa kỳ đến Mễ tây cơ, những nơi mà thiên nhiên đã ban cho một quang cảnh hùng vĩ quá đẹp, nhưng ta chỉ cần một ngọn đồi thoai thoải, những hàng thông liễu rủ bên bờ hồ, tiếng suối róc rách bên tai, chiều đến vài cô thôn nữ các sắc tộc Koho, Ma, Mnong, ngực trần, váy mầu nâu xẫm bó chặt bên hông, vai mang gùi đầy củi dầu hay vài con thú vừa bẫy được lặng lẽ đi từng hàng về buôn sóc. Ôi, cảnh quá đẹp đối với người có tâm hồn lãng mạn, đa tình.”

 LÊ THỊ Ý

     Thành phố cao nguyên cảnh buồn, nên tình cũng buồn. Có lẽ vì vậy mà LÊ THỊ Ý ghi lại khung cảnh Đà Lạt về chiều với bài thơ “Tình mong manh” (Quê hương và người tình, Bắc Hà 1992):

“Em tôi từ Paris,
Thăm nhau chiều thứ bẩy.
Ba mươi năm qua đi,
Tình đôi ta vẫn vậy.

Đôi mắt biếc xa xưa,
Lên khung vẽ bao giờ,
Cây Phong Cầm nhung nhớ,
T. T. buồn ngu ngơ.

Em như giấc mơ hoa,
Anh tháng năm nhạt nhòa,
Khung trời chiều Đà Lạt,
Còn mãi trong lòng ta.
Lối cũ đã rêu phong,
Từ thuở em theo chồng.
Công viên, pho tượng đá,
Đắm chìm vào hư không.

Đông đến rồi thu qua,
Môi em vẫn mặn mà.
Belpre chiều gió nổi,
Cuộc tình đầu vút xa.

Như sương khói mong manh,
Thôi mất đi người tình.
Cung đàn xưa lỗi nhịp,
Anh chẳng còn thư sinh.”

NGUYỄN XUÂN HOÀNG

     Hồi ký về Đà Lạt của NGUYỄN XUÂN HOÀNG trong thời mà nhà văn gọi là thời “mới lớn”:

     “Đà Lạt, thành phố trên cao của Việt Nam, là nơi chôn giữ của tôi khá nhiều kỷ niệm của thời mới lớn. Chính tại thị trấn “hàn đới” này, tôi đã làm những bài thơ tình đầu tiên, viết cái truyện ngắn thứ nhất, và biết thế nào là mùi vị của cô đơn.

     Tôi đến Đà Lạt lần đầu tiên khi vừa chẵn mười tám tuổi. Hành lý của tôi chỉ là một chiếc áo len và một bàn chải đánh răng. Đêm Đà Lạt lạnh buốt. Tôi bước vào một quán cà phê có tên là Tùng. Ánh đèn mờ không soi rõ mặt khách, và khói thuốc mù làm đục cả cái không khí chật chội. Tiếng nhạc mở lớn làm căn phòng như muốn vỡ tung ra. Tôi gọi một ly cà phê sữa nóng và đốt một điếu thuốc trong khi chờ đợi.”

     Sau đó NGUYỄN XUÂN HOÀNG kể lại chuyện mình ngay đêm đó bị một thanh niên trong quán cà phê đến gây sự, kéo nhau ra ngoài, bị một bọn đánh “hội đồng” và vài tuần sau là cuộc trả thù của mình chấm dứt trên sân Cù. Nhà văn viết tiếp:

     “Chính là sau đêm ở sân Cù trở về cư xá sinh viên trong Viện Đại Học, tôi đã làm những câu lục bát đầu tiên của mình:

     Từ xa phố chợ đến giờ
    Chân quen bỏ lệ gõ bờ lộ quen
     Trong tôi quạnh quẽ nỗi niềm
     Lạnh tàn nhẫn rót vào đêm lên đường.

     Và từ ngày đầu tiên ấy, tôi đã sống với Đà Lạt suốt ba năm trời. Ba năm trời, tôi buộc đời tôi vào với Viện Đại Học trẻ trung vừa được thành lập, với cái lạnh lẽo của rừng núi, với tiếng gió hú trên đồi thông, với những giờ triết học buồn nản…

     Ba năm trời ở Đà Lạt, mỗi năm thay đổi chỗ ở một lần, nhưng bầu trời trong sáng của nó, những trận mưa lạnh lùng của nó, những đóa hồng dại của nó mọc ven đường... đã cột chặt đời tôi như một lần mãi mãi…

     Một năm sau tôi dọn chỗ ở mới. Phòng trọ nằm trên đường Võ Tánh, con đường dốc đất đỏ mà sau mỗi trận mưa luôn luôn gây cho người ta cái cảm tưởng đang nhìn thấy ở một vết thương vô hình nào đó chảy ra. Từ nơi trọ đến Viện, tôi phải đi ngang qua trường nữ trung học Bùi Thị Xuân. Những buổi có giờ học trễ, nằm ngủ nướng trong giường, tôi có thể nghe tiếng trống vào lớp. Đó là thời gian tôi bắt đầu tập hút thuốc và uống rượu. Những ly rượu đắng cay đốt cháy mối tình đầu tiên của tôi…

     Đó là thời kỳ tôi quen Kim và tôi bỏ học. Chiều nào chúng tôi cũng xuống hồ Xuân Hương, ngồi dưới bóng tối của một gốc cây gần nhà Thủy Tạ. Những bài học tình ái mà chúng tôi chia nhau từng trang để đọc, quyến rũ tôi hơn là những bài triết học chết cứng và khô héo. Nhưng một hôm Kim bỏ tôi đi, không một lời từ biệt. Căn phòng tôi bỗng quạnh hiu một cách kỳ lạ. Bàn học tôi vẫn còn đầy những vết dao khắc tẩn mẩn tên hai chúng tôi. Chiếc lò điện trong phòng vẫn không ấm bằng tấm thân mềm mại nhưng rực lửa của Kim. Chúng tôi chung nhau hơi thở của gối chăn. Hơi lạnh của đất trời là sự cuồng nhiệt nóng bỏng của chúng tôi.
 
    Cánh cửa sổ mà mỗi buổi sáng khi Kim còn quấn mình trong chăn, tôi đã đến hà hơi vào mặt kính và vẽ tên Kim lên đó. Qua nét chữ, tôi có thể nhìn thấy ngọn đồi trước nhà chìm trong một vùng sương mù dày đặc, con đường đất đỏ cũng nhờ nhờ trong sương như một vết thương vừa kéo mủ. Có lúc tôi nghe tiếng gió rít tàn bạo và rợn người như thể đang có sự di chuyển của một con khủng long thời cổ sơ nào vừa thức dậy và đi qua mấy trăm ngàn năm ngủ trong lòng đất. Những cơn mưa tầm tã len hai bên triền dốc trước mặt nhà kéo theo những dòng nước đất đỏ ngầu luôn luôn gây cho chúng tôi cái ấn tượng về những vết thương…

     Đà Lạt, đó là một thành phố rất Tây trên quê hương Việt Nam. Nhà hàng Mekong, Chic Shangai, l’Eau Vive, Lycée Yersin, Couvent des Oiseaux, Hotel Sans-Souci, Palace, Thủy Tiên… làm chứng cho những suy nghĩ của tôi. Đà Lạt là một thành phố hòa bình trên một đất nước ngập tràn máu lửa. Đà Lạt là một giấc mơ thần tiên trong một hiện thực sắt thép địa ngục. Đà Lạt, căn hầm trú ẩn bằng bê tông cốt sắt giữa một trận địa đầy bom mìn và xác chết. Đà Lạt là một hòa bình đầy riêng rẽ. Đà Lạt là “mũ ni che tai”… Đà Lạt trong trí nhớ tôi giờ đây chỉ là một kỷ niệm đẹp và... chua xót.”

     Trong một bài khác NGUYỄN XUÂN HOÀNG lại viết:

     “Tôi nhớ Đà Lạt vô cùng, nhớ con đường Hoa Hồng, nhớ con dốc dẫn lên nhà Bưu Điện, nhớ con suối cạn chạy dưới chân cầu đưa ta trở lại chợ Hòa Bình, nhớ con đường dắt ta đi quanh Hồ Xuân Hương, và cái quán nước quen nhô ra mặt hồ, nơi chúng ta vẫn đến ngồi uống cà phê nhìn ra những ngọn đèn vàng ám đang nhắm mắt ngủ gà ngủ gật trong đêm.

     Tôi nhớ hàng bánh xèo ở đường Tăng Bạt Hổ, buổi tối nào chúng ta cũng đến đó, ngồi bên nhau xoa tay bên lò than hồng chia chút hơi ấm chờ phần ăn của mình…

     Hãy tưởng tượng ngôi nhà ta ở Đà Lạt, mái ngói đỏ hình dấu mũ, sàn nhà bằng gỗ đánh vẹc ni, vách thơm mùi trầm, treo đầy những hoa phong lan mà em nhặt được bên bờ suối chiều qua...

     Hãy tưởng tượng cửa sổ phòng chúng ta mở ra mỗi buổi sáng sẽ thơm ngào ngạt mùi hoa hồng dại, và cây mimosa đứng ngoài sân kia sẽ ghen với hạnh phúc đôi ta mà nở ra những đóa hoa vàng quý phái. Mỗi buổi chiều chúng ta có thể nhìn thấy sương mù trải dài từng lớp mỏng rồi lan cao dần che phủ dầy đặc cả bầu trời xám đục trên đầu chúng ta, và em ngồi trong ghế mây đu đưa, cả gian phòng kính kín bưng thơm mùi bồ kết ướp mật từ mái tóc em làm ấm lên một thời tiết lạnh lùng.”

(Trích: “ĐÀ LẠT NGÀY THÁNG CŨ”
Soạn giả: LS. Ngô Tằng Giao)

1.dalat.jpg - 117.83 Kb

Bạn đang theo dõi trang: Đà Lạt Ngày Tháng Cũ Nguyễn Quí Nhơn, Lê Thị Ý & Nguyễn Xuân Hoàng _ (Đà Lạt Ngày Tháng Cũ_#44)