(Anh Tâm, Nguyễn Cúc & Anh Bằng) _ (Đà Lạt Ngày Tháng Cũ_#45)

  • PDF

1_dl_hoatuyet.bmp - 216.68 Kb

TÌNH YÊU NHƯ BÓNG MÂY
  
  
     Đà Lạt xưa kia giống như một thiếu nữ tuổi xuân thì, dáng đài các, đã từng làm siêu lòng biết bao nhiêu là văn sĩ, thi sĩ, nhạc sĩ, họa sĩ và cả nhiếp ảnh gia nữa… Thật quyến rũ. Thật đắm say. Ghé thăm Đà Lạt để rồi khi chia tay nhau lại bịn rịn. 

     
     KHÁNH GIANG năm 1959 viết về “Đà Lạt với du khách” đã nói:

     “Bạn có sống qua những ngày lặng lẽ u buồn ở Đà Lạt, có ngắm qua những buổi hoàng hôn nhuộm đỏ cánh đồi, có ngồi thu mình nhìn qua giọt mưa nặng trĩu rơi trên cửa kính, có dịp trầm ngâm cô độc say mê theo khói thuốc và hương vị tách cà phê phin đen ngòm, có lủi thủi dưới làn mưa bụi về đêm, có nện gót giày đều đều trên đường phố hoang vắng, có sống qua những giờ phút trống rỗng của cuộc đời và lòng có mang ít nhiều kỷ niệm đau thương, bạn mới cảm được cái “tâm hồn” sâu xa và thấm thía của Đà thành. Và lúc ấy, bạn khó lòng mà rời Đà Lạt được nữa.” 
    
     Tình yêu với Đà Lạt thật muôn vẻ. Khi thì lặng lờ như mặt nước hồ thu êm dịu hay cuồng nhiệt như những bọt nước trắng xóa của thác nước bên đèo. Khi thì giăng mắc như sương khói phủ trên khắp cánh rừng thông. Khi thì tan biến vào thinh không theo tiếng chuông chùa Linh Sơn... tiếng chuông nhà thờ Con Gà... Tình yêu vang vọng và lan đi để rồi hội nhập vào núi đồi Đà Lạt mỗi buổi sáng sớm khi mặt trời còn khuất dạng...

     Phải chăng đối với những ai đã từng sinh trưởng tại Đà Lạt, hay đã có một thời gian dài sinh sống tại đây hoặc chỉ là du khách ghé thăm thành phố trong ít ngày thời Đà Lạt của những ngày tháng cũ đã để lại trong tận cùng tâm khảm con người những niềm thương nỗi nhớ sâu đậm và thiết tha… như suối nguồn tuôn chảy. Nói hoài không hết!

     Sau đây chỉ thâu thập và ghi lại được một phần nào cái tình cảm thương yêu và nhớ nhung đó mà thôi! Mỗi người một vẻ! Tình yêu với Đà Lạt bồng bềnh như bóng mây, một thời đã hội tụ quyến luyến trên bàu trời thành phố cao nguyên thời nay lại man mác dàn trải ra khắp cả bốn phương trời… Nỗi nhớ khôn nguôi!

ANH TÂM

     ANH TÂM (Trần Công Phấn) sống và lập nghiệp tại Đà Lạt lâu năm. Từ nơi xứ lạ khi cảm hứng dâng tràn, ANH TÂM viết mấy vần thơ bộc lộ tình cảm mình “Tóc mai quyện lấy cỏ Bồng”:

“Trở về tìm dấu lưu niên
Đồi cù xưa đã ngả nghiêng mất rồi
Còn đâu thảm cỏ em ngồi
Bước chân chim sẻ bờ môi diễm kiều
Chỗ nằm hoa dại tịch liêu
Con đường hò hẹn dáng chiều năm xưa
Lá còn ướt giọt sương khuya
Mây mù phủ kín say sưa hơi nồng
Tóc mai quyện lấy cỏ bồng
Tuổi xuân đón những nụ hồng nguyên trinh
Đà thành mất ngọn đồi xinh
Hồ Xuân Hương vắng bóng hình cố nhân.”

     Nhân dịp họp mặt những người Đà Lạt tại California, Hoa Kỳ, ANH TÂM đã cảm tác bài thơ “Hội ngộ Đà Lạt” (6-1993), với lời ghi chú “Tặng các bạn đồng hương Đà Lạt”:

“Tà áo lụa hững hờ khoe nắng sớm
Hồng đôi má, ngực cao nguyên vừa chớm
Mắt liếc dao cau chết bao gã si tình
Chuông tan trường bịn rịn áo thiên thanh
Dẫm lá mục đồi Couvent thầm kín
Vòng tay ấm, phút giây buồn đưa tiễn
Từ giã Lycée tạm biệt cuối niên
Hồ Xuân Hương, vành nón lá che nghiêng
Vai nặng trĩu gánh hàng phiên chợ mới
Bến Minh Trung hẹn hò năm học tới
Lưu bút trao nhau xao xuyến ngập hồn
Sương vô tình dẫm ướt bờ môi hôn
Còi xe thét vỡ tan cơn mộng đẹp
Đà Lạt thân thương ngàn đời khép nép
Thành phố u buồn ướt vạn bài thơ
Mây ngủ chập chùng, biệt thự lửng lơ
Bầy chim sẻ rỉa lông bên hoa dại
Hội ngộ hôm nay, Đà thành sống lại.”…

     Cùng tâm trạng với những người lưu vong khác, ANH TÂM luôn đề cao tình người Đà Lạt và tình quê hương đất nước:

“Mùa thu đến mang phút giây hội ngộ
Thung lũng Hoa Vàng nhộn nhịp đồng hương
Mây Cali chào đón khách muôn phương
Hoa mai nở say tình người Đà Lạt
Ta về đây, môi vành khuyên ca hát
Tay trong tay, mắt kỷ niệm mênh mông
Năm, tháng hằn lên vầng trán lưu vong
Tim, óc vẫn hiến dâng về xứ sở.”

     Tình của ANH TÂM với Đà Lạt thật tha thiết, xót xa, trong đoạn thơ cuối cùng, nghe như nỗi lòng chung của các người Đà Lạt:

“Đồng hương ơi, nếu có chết ngày mai…
…Hãy mang tro tàn trở về Đà Lạt
Bón vào Đất cho thông xanh bát ngát
Thung Lũng Tình Yêu đậm nét  Ái Ân
Đến “Thở Than” hồ cũ, bên mộ phần
Thân đất khách, hồn gửi về Đà Lạt.”

NGUYỄN CÚC

     Nhân dịp kỷ niệm 100 năm Đà Lạt (1899 -1999) NGUYỄN CÚC viết lại hồi ký về Đà Lạt và trường “Notre Dame des Oiseaux” vào những năm 1950. NGUYỄN CÚC nói về Đà Lạt:
     “Một thành phố không giống bất cứ thành phố Việt Nam nào, “Đà Lạt trăng mờ” với suối trong, hồ rộng, thác nước gập ghềnh, núi đồi trùng điệp. Thành phố ra đời với huyền thoại, những huyền thoại trở thành thiên thu. Chưa đi đến nơi, chỉ nghe nói, ai ai cũng muốn đến thăm Đà Lạt một lần cho biết…
     Đà Lạt trên xứ Thượng, đẹp đẽ nhưng hoang vu nên tỉnh lỵ (tòa công sứ) đặt tại Djiring (quận Di Linh sau này) với hai đồn lính đầu tiên tại Tánh Linh và Lang-bian vừa làm đồn, vừa trạm giao thông tiếp vận, liên lạc giấy tờ hành chánh.”

     Với cái nhìn đầy lãng mạn NGUYỄN CÚC ghi lại những cảm xúc hào hứng của mình khi mới đến Đà Lạt lần đầu tiên, mà mãi về sau này khó mà có thể quên được:
     “Năm 1950, lần đầu tiên biết Đà Lạt. Cùng với các đệ tử Dòng Chúa Cứu Thế tháp tùng đi “promenade”, ba bốn người được dịp leo lên đỉnh Langbian. Cái vui nhất, đẹp nhất là được nhìn, được ngắm, tha hồ nói dốc với thầy Thomas cũng từ Sài Gòn mới lên: Veni, vidi, vixi. Mà vui thật, đến nơi rồi, Langbian hết còn là đỉnh núi hoang vu! Đông đủ mọi người đẹp thật, như “mùa xuân trên đỉnh non cao”; trời trong, gió mát, nắng vàng lửng lơ. Từ đây nhìn xuống Đà Lạt sương tan lần lần, đủng đa đủng đỉnh.
     Phía bên này, xa thật xa, tu viện Dòng Chúa Cứu Thế đang xây cất trên ngọn đồi cao người Đà Lạt gọi là Núi Ba Cây vì từ thành phố đi lên, nhắm hướng ngọn đồi sừng sững ba cây thông lớn. Chỉ 3 cây thôi, một mình một cõi trên chóp đồi, cứ thế leo dốc cao, cao lần. Phía bên kia, theo hướng cha Côté chỉ, và tự mình tuy chưa biết Đà Lạt cũng cố thử tưởng tượng thêm. Lờ mờ chân mây bên rừng thông tĩnh lặng, nơi đó mái trường Notre Dame du Langbian, ngày mai sẽ đến đây thăm người em trước khi đi xa.
     Ngày ấy và sau này cũng vậy, Đà Lạt quyến luyến du khách vì những địa danh gần gũi, cầu Ông Đạo, cầu Bá Hộ Chúc, suối Cát, suối Vàng, dốc Mơ, dốc Nhà Bò. Dễ thương con đường Dốc Nhà Bò (Rue des Carrières) đường dốc như bao nhiêu đường dốc khác của Đà Lạt. Nhà Bò, nhưng chẳng thấy trâu, thấy bò, chỉ còn trơ trọi như dấu tích để lại với năm tháng hững hờ mấy chuồng bò xiêu vẹo.”

     NGUYỄN CÚC nhớ lại một số nhân vật và một số địa danh của Đà Lạt từ hơn nửa thế kỷ trước:
     “Đường Cầu Quẹo, nhưng không thấy cầu, cũng chẳng thấy quẹo chỗ nào, trừ một đoạn nới rộng thụt vô trong như vòng cung, nơi có tiệm cơm tàu, bồ câu quay, phá lấu mì xào, bên cạnh rạp ciné Langbian, cả Đà Lạt ai cũng biết. Từ Cầu Quẹo, không cần quanh, chẳng cần quẹo, đi tuốt lên đến một tiệm may, nhà anh Phan Xứng, tiếp tục thẳng đường lên dốc cao mãi là tu viện dòng Chúa Cứu Thế Núi Ba Cây. Con đường vắng vẻ kỳ lạ, một đoạn dài gần 3km đường đất, đường đá lồi lõm, lâu lâu mới thấy có chiếc xe ngựa lọc cọc chạy qua. Đà Lạt 1949-1950!
     Từ Cầu Quẹo, cũng chẳng cần quẹo thêm, theo đường dốc lài-lài một quãng ngắn độ hai trăm mét, đến ngay chợ. Vừa chợ, vừa phố, “phố núi cao”, “đao tao” Đà Lạt nằm ngay đây, khỏi tìm đâu xa. Hai dãy phố bên hông chợ buôn bán không nhiều, không to lớn, nhưng không có phong vị một tỉnh xép. Cửa hàng trưng bày sáng sủa, đẹp mắt, có vẻ “Tây”. Lâu ngày, phố xá buôn bán chỉ còn nhớ vài ba nơi, phòng mạch bác sĩ Lemoine, tiệm hình Nam Sơn. Gần đó, tiệm vàng đồng hương có người đẹp Bùi Thị Hiếu, làng Kế Môn. Bùi Thị Hiếu hoa khôi, hoa hậu Đà Lạt một thời…
     Hết cầu, hết chợ, đi vòng vo, leo đồi xuống dốc, qua suối quanh hồ; chịu khó đi bộ khá xa... mới đến trường Couvent des Oiseaux. Đường đi đẹp, phong cảnh hai bên đẹp. Nhưng thôi không nhắc nữa: “Mais où sont les neiges d'antan” (Francois Villon).
     Vùng đất vừa được định chế “Territoire de la Couronne” (Hoàng Triều Cương Thổ) từ khi “hoàng đế hồi loan”, Đà Lạt ngày thường phố núi cây xanh trầm lặng thanh vắng, trưa hôm ấy hì hà hì hục lên đến sân trường, thấy im lìm vắng vẻ hơn. Sân trước, sân sau, bên mặt, bên trái đồi thông và thông trên đồi. Chênh chếch lưng đồi những lối đi vắt ngang; ngoằn ngoèo theo hàng cây những con đường năm tháng xa vời còn để lại gót sen các nàng “chim”, giờ nghỉ học rảnh rang đi tới đi lui hướng nhìn chân trời thanh thanh, nhẹ nhàng như giấc mộng thanh bình…”
     “...qua khung cửa kính nhìn ra ngoài; trời đẹp, hàng cây Mimosa lạc lõng trước sân trường. Cành lá Mimosa sắc trắng sắc xanh mảnh khảnh đong đưa, nhụy hoa vàng lơ lửng chập chờn trên bãi cỏ, đó đây vài cánh hoa bâng khuâng chưa hé nụ ngoan ngoãn đợi chờ…
     Trở về gần gũi hơn với trời đất thiên nhiên, với vũ trụ huyền nhiệm, hàng ngày lắng nghe tiếng nói của núi rừng, tiếng hò reo của ghềnh thác cheo leo, tiếng thầm thì của cỏ cây hoa lá, người miền xuôi mỗi ngày một nhiều hơn tìm về xứ Thượng Đà Lạt như về miền đất hứa, hẹn hò từ thuở xa xưa.”

ANH BẰNG

     ANH BẰNG sáng tác bản “Đà Lạt xa nhau”. Lời nhạc buồn với lòng nhung nhớ về cảnh cũ lẫn người xưa:
     “Làm sao anh nỡ quên Ðà Lạt thơ? Quên những đêm sương đổ trắng mặt hồ. Quên người em gái ngày xưa. Quên đường suối dốc mộng mơ. Những khi chiều vắng hẹn hò.
     Giờ xa nhau quá hỡi Ðà Lạt ơi! Tôi nhớ Cam Ly ở cuối chân trời. Bao lần nghe lá vàng rơi. Bao mùa thu chết tả tơi. Lẽ gì mất nhau suốt đời.
     Từ ngày ra đi anh nghe lạnh giá gần kề. Em nghe quạnh vắng từ về. Má hồng rét mướt não nề. Ðà lạt ơi! Thác Prenn còn ai đến không? Ái ân còn ai đôi bóng? Ai nhớ rừng không?
     Làm sao anh biết nỗi buồn ở đây? Xa cách quê hương đã mấy ngàn ngày. Cung sầu đổ xuống bàn tay. Có người trông ngóng từng giây. Có người trắng đêm thở dài.” 
 

(Trích: “ĐÀ LẠT NGÀY THÁNG CŨ”
Soạn giả: LS. Ngô Tằng Giao)

1.dalat.jpg - 117.83 Kb

Bạn đang theo dõi trang: Đà Lạt Ngày Tháng Cũ (Anh Tâm, Nguyễn Cúc & Anh Bằng) _ (Đà Lạt Ngày Tháng Cũ_#45)