(Ngự Thuyết, Trần Huy Sao & Phạm Mạnh Cương) _ (Đà Lạt Ngày Tháng Cũ _#46)

  • PDF

 

6346605668traimat_thumb.jpg - 245.08 Kb

TÌNH YÊU NHƯ BÓNG MÂY
  
  
     Đà Lạt xưa kia giống như một thiếu nữ tuổi xuân thì, dáng đài các, đã từng làm siêu lòng biết bao nhiêu là văn sĩ, thi sĩ, nhạc sĩ, họa sĩ và cả nhiếp ảnh gia nữa… Thật quyến rũ. Thật đắm say. Ghé thăm Đà Lạt để rồi khi chia tay nhau lại bịn rịn. 

     
     KHÁNH GIANG năm 1959 viết về “Đà Lạt với du khách” đã nói:

     “Bạn có sống qua những ngày lặng lẽ u buồn ở Đà Lạt, có ngắm qua những buổi hoàng hôn nhuộm đỏ cánh đồi, có ngồi thu mình nhìn qua giọt mưa nặng trĩu rơi trên cửa kính, có dịp trầm ngâm cô độc say mê theo khói thuốc và hương vị tách cà phê phin đen ngòm, có lủi thủi dưới làn mưa bụi về đêm, có nện gót giày đều đều trên đường phố hoang vắng, có sống qua những giờ phút trống rỗng của cuộc đời và lòng có mang ít nhiều kỷ niệm đau thương, bạn mới cảm được cái “tâm hồn” sâu xa và thấm thía của Đà thành. Và lúc ấy, bạn khó lòng mà rời Đà Lạt được nữa.” 
    
     Tình yêu với Đà Lạt thật muôn vẻ. Khi thì lặng lờ như mặt nước hồ thu êm dịu hay cuồng nhiệt như những bọt nước trắng xóa của thác nước bên đèo. Khi thì giăng mắc như sương khói phủ trên khắp cánh rừng thông. Khi thì tan biến vào thinh không theo tiếng chuông chùa Linh Sơn... tiếng chuông nhà thờ Con Gà... Tình yêu vang vọng và lan đi để rồi hội nhập vào núi đồi Đà Lạt mỗi buổi sáng sớm khi mặt trời còn khuất dạng...

     Phải chăng đối với những ai đã từng sinh trưởng tại Đà Lạt, hay đã có một thời gian dài sinh sống tại đây hoặc chỉ là du khách ghé thăm thành phố trong ít ngày thời Đà Lạt của những ngày tháng cũ đã để lại trong tận cùng tâm khảm con người những niềm thương nỗi nhớ sâu đậm và thiết tha… như suối nguồn tuôn chảy. Nói hoài không hết!

     Sau đây chỉ thâu thập và ghi lại được một phần nào cái tình cảm thương yêu và nhớ nhung đó mà thôi! Mỗi người một vẻ! Tình yêu với Đà Lạt bồng bềnh như bóng mây, một thời đã hội tụ quyến luyến trên bàu trời thành phố cao nguyên thời nay lại man mác dàn trải ra khắp cả bốn phương trời… Nỗi nhớ khôn nguôi!

NGỰ THUYẾT

     NGỰ THUYẾT ghi lại những kỷ niệm về thành phố Đà Lạt khi mình còn là một chú bé:

     “Một chủ nhật, như mọi chủ nhật khác, chị nó đi “bà xơ” cùng với tất cả học trò con gái khác trong lớp dù có “theo đạo” hay không. Đó là chuyện bắt buộc. “Theo đạo” có nghĩa là theo đạo Thiên Chúa, và “đi bà xơ” là đi đến một ngôi nhà thờ nào đó để được các bà xơ (soeurs) dạy bảo nhiều thứ như thêu thùa, nấu ăn, trồng rau, trồng hoa, hát, các môn thể thao, các bài giảng trong Thánh Kinh v.v... Học trò con gái khoảng ba mươi đứa sắp hàng hai đi bộ từ nhà trường qua nhiều dãy phố để đến nhà thờ...

     Đoàn học trò ra khỏi cổng trường quẹo trái đi một quãng ngắn trên con đường nhỏ lát đá, rồi quẹo phải đi trên con đường nhựa tiến về phía ngôi chợ to lớn của thành phố, ngôi chợ có hình mọi cà răng căng tai, rồi lại quẹo trái xuống một con đường vừa rất dốc vừa cong queo hai bên là các dãy phố để đến khu Cầu Quẹo… Đoàn người tiếp tục đi, lách theo một con đường mòn nhỏ, băng ngang qua một khu vườn trồng la-ghim, tiến đến một con suối. Một chiếc cầu gỗ cong cong bắc ngang qua dòng nước chảy khá mạnh. Cầu nhỏ, bọn con gái phải từng đứa một đi qua… Đi thêm một quãng đường, họ rẽ sang trái, đi vào cổng một khu nhà thờ rộng lớn. Sau này nó biết đó là khu nhà thờ Saint Domaine de Marie.”

     NGỰ THUYẾT ghi lại những hình ảnh về thời thơ ấu của mình:

     “Tôi không sinh ra tại Đà Lạt, nhưng thời thơ ấu của tôi đã trải qua trên thành phố cao nguyên này. Đường sá, địa danh hồi đó hầu hết đều mang tên bằng tiếng Pháp, chẳng hạn đường Rue d'Annam, đường Maréchal Foch, đường La Rose, hồ Lac des Soupirs, trường Petit Lycée, trường Yersin, rừng Bois d'Amour, nhà thờ Saint Domaine de Marie, khách sạn Sans Soucis, rạp chiếu bóng Lang Biang v.v... Lẽ dĩ nhiên những tên vừa nói sau này tôi mới biết, còn hồi bé, trừ cái tên của ngôi trường mà tôi đã đến học được mấy năm là trường École Primaire de Dalat, những danh xưng khác bằng tiếng Pháp tôi chỉ nhớ loáng thoáng. Sân Bờnoa (Saint Benoit) nghe nói hình như ở đâu xa lắm thì phải; khách sạn Ba-Láp (Palace) nghe nói Tây Đầm mới được tới; chị Thu bảo đã đi thăm Ba-Le (Palais Impérial) đẹp hết chỗ nói. Những thứ đó tôi không để ý đến. Chú bé loắt choắt đã có những bận tâm khác.”

     Chú bé bận tâm thả diều: “… đi theo tụi nhỏ khác mang diều tới thả nơi khoảnh đất rộng trống gió cuối đường Rue d'Annam. Đó là nơi tụi nhỏ tụ tập chơi nhiều trò nhất. Từ khoảnh đất đó nhìn thẳng trước mặt xuống lòng thung lũng nó thấy được con đường cong cong hai bên phố xá thưa thớt mà người ta gọi là đường Cầu Quẹo. Xa hơn nữa, trên sườn chênh chếch từ lòng thung lũng đi lên, tầm mắt nó chạm phải những hàng thông chạy dài theo một con đường vắng. Nó đã theo bố đi trên con đường đó mấy lần nhưng nó không biết tên đường. Về sau nó biết đó là đường Pasteur, rồi đổi thành đường Hai Bà Trưng. Nhích lên một chút nữa là những dãy nhà tường trắng, mái đỏ trông rất ma quái, dễ sợ. Bọn trẻ cùng khu phố thường bảo nhau đó là vùng nhà thương, nhà xác, nhà mồ, lẽ dĩ nhiên có nhiều ma… Ngay phía sau khu thả diều trên đỉnh một trái đồi nhỏ là nhà thờ Tin Lành mới xây xong. Bên mặt nhà thờ, trên một đỉnh đồi khác, một ngôi chùa cũng đang được xây nửa chừng. Sau này đó là chùa Linh Sơn. Còn bên trái, theo cái thế đứng thả diều của tụi nó, là phố xá, là cái chợ có cái tháp cao hụ còi vào lúc đúng ngọ trên đó có chạm hình nổi mọi “Cà răng căng tai”.

     Chú bé lo chuyện đá dế: “Mùa dế đến, theo chân dế, theo tiếng dế gáy thiết tha, giục giã, nó đi nhiều nơi. Đi tới cuối đường Cầu Quẹo, đi lên Cây Số Bốn, Cây Số Sáu, đi xuống dốc Nhà Làng, đi qua xóm Nhà Bò, đi lại phía Nhà Đèn, đi lên đồi Cù, đi xuống cầu Ông Đạo, đi về cầu bà Cửu Huờn v.v... có khi đi thật xa, gần tới Bơ-tí Lít-xê (Petit Lycée)… Muốn bắt được nhiều dế cứ việc đến các vườn la-ghim (légumes) của các ấp Hà Đông, ấp Nghệ Tĩnh gần Mả Thánh… Những con dế than, dế lửa quả là những hình ảnh hết sức rực rỡ nổi lên trên khung cảnh quá êm đềm của Đà Lạt thời thơ ấu. Đà Lạt thơ ấu! Đúng thế, thời thơ ấu của chính Đà Lạt và cũng là thời thơ ấu của nó.”

     Khi đã lớn lên, trở lại chốn cũ NGỰ THUYẾT viết:

     “Đường và địa danh đã mang tên Việt Nam, chẳng hạn đường Hàm Nghi thay vì Rue d'Annam, đường Duy Tân thay vì Maréchal Foch, đường Hai Bà Trưng thay vì Pasteur, đường Phan đình Phùng trước chỉ quen gọi tên là đường Cầu Quẹo, hoặc những địa danh như cư xá Chi Lăng thay thế tên Cité Saint Benoit, hồ Than Thở thay Lac des Soupirs, rừng Ái Ân thay cho Bois d'Amour, trường Hùng Vương trước kia là trường Yersin v.v... Đà Lạt khoác chiếc áo mới, Đà Lạt bừng bừng sức sống.”

     Mùa Giáng Sinh tại Đà Lạt: “Anh đào rung rung trong gió, rải rác trên những vùng rộng lớn, hoặc xúm xít nhau thành từng cụm, trên các đường đi, trên sườn đồi, dưới thung lũng, trong những khu vườn rộng bao quanh những ngôi biệt thự tráng lệ. Ban đêm trời buốt giá. Càng gần lễ Giáng Sinh trời càng lạnh. Đêm Nô-en đường phố đông nghẹt con chiên cũng như người ngoại đạo trong những chiếc áo choàng ấm lũ lượt đi đến những ngôi nhà thờ đèn sao rực rỡ, ánh sáng tưng bừng.”

     Tết Nguyên Đán tại Đà Lạt: “Tết ở Đà Lạt cảnh vật có khác, khí hậu có khác, nhưng mang rất nhiều hình ảnh của tết ở Huế. Đêm ba mươi phố xá vắng teo, nhà nhà cửa đóng im ỉm bên trong đèn sáng trưng, trên bàn thờ trầm hương nghi ngút, hoa quả, thức ăn, đồ cúng sắp đầy. Góc sân sau, nằm trên lò lửa dựng bằng ba viên gạch lớn và chụm bằng những thanh củi thông to còn nguyên cả vỏ cây sù sì kêu lách tách, là nồi bánh chưng, bánh tét “sắp chín tới nơi”, bao vây bởi mấy em bé ngồi quanh nôn nao chờ vớt mấy cái bánh lẻ nhỏ xíu để được ăn trước mọi người. Đến nửa đêm pháo giao thừa vang rền khắp nơi, khói pháo không muốn bay lên cao quyện vào đám sương mù đang phủ đầy mặt đất. Lễ vật cúng giao thừa được bày ra trước sân rước mùa xuân mới vào. Sáng mồng một Tết, trời lạnh, xác pháo phủ đầy trước mỗi nhà, rải rác khắp mọi nẻo đường, trên đó đã có những cô bé, cậu bé nóng ruột chạy ra khỏi nhà khoe áo quần mới. Phố đông dần, những con đường dẫn đến các vùng mộ, các ngôi chùa, tấp nập người đi. Sinh hoạt càng lúc càng bừng dậy, nơi đây tiếng trống múa lân giục giã, nơi kia pháo nổ chát chúa, dưới thung lũng lễ hội mùa xuân, trên phố cao những sòng bài công cộng.”
 

TRẦN HUY SAO

     TRẦN HUY SAO (tên thật Trần Phan Hưng, sinh ra tại thành phố Đà Lạt, nguyên quán Huế) trải nỗi lòng nhung nhớ về thành phố cao nguyên trong bài thơ “Đà Lạt mùa Xuân nỗi nhớ”:

“Đà Lạt ơi, tôi đã xa rồi đó
Những mùa Xuân xin gởi lại. Ngậm ngùi
Trời cuối Chạp sương mù rẻo phố
Giữ dùm nhau nặng nhẹ buồn vui

Hoa Anh Đào nở hồng Cam Ly Hạ
Để thượng nguồn ngơ ngẩn nhớ mùa Xuân
Con phố Duy Tân chiều em áo lụa
Góc Việt Anh tôi đứng đợi bâng khuâng

Dõi bước theo em lên phố Hoà Bình
Tiếng pháo rộn ràng dọc đường Minh Mạng
Mình lại gặp nhau góc đường Ngọc Hiệp
Người đông vui ngược xuống Ngã Ba Chùa

Tiếng chuông quyện hương trầm phảng phất
Mái chùa cong giữ ước nguyện đầu năm
Em má đỏ mắt hiền ngoan Đà Lạt
Để tôi hoài yêu dấu một mùa xuân

Mình xuống phố. Mùa Xuân đang réo gọi
Trời trong xanh theo Én gọi bay
Tôi đưa em qua Vườn Hoa Thành Phố
Sáng Bích Câu chiều ghé Hội Hoa Xuân

Đêm Thủy Tạ miếng mứt gừng cay ngọt
Trời mù sương bàng bạc hướng Đồi Cù
Chuyến xe lam đưa em về xóm nhỏ
Tôi lại một mình. Phố vẫn mù sương

Mai xuống phố. Phố quê người xa lạ
Em có buồn khi chợt nhớ Xuân xưa
Trời trở lạnh như thuở nào, Đà Lạt
Sao vẫn buồn, vẫn lạc lõng bơ vơ

Đà Lạt ơi, tôi có nhiều nỗi nhớ
Cả bâng khuâng và cả những ngậm ngùi
Mùa Xuân này đất trời xưa có đợi
Để tôi về ôm hết cả buồn vui...” 

PHẠM MẠNH CƯƠNG

     PHẠM MẠNH CƯƠNG ngoài bản nhạc “Thung lũng Hồng” còn sáng tác tại Đà Lạt bản “Mắt lệ cho người tình”. Lời nhạc cũng buồn với cảnh chia ly, với rừng thông và đồi núi cao nguyên:

 “Rồi đây, mây trên đồi vắng, lang thang tìm phiến đá xưa rêu mòn. Rồi đây, mưa ru ngàn lá, mây bay mờ xóa, rừng thông lắng buồn.
     Tình anh, như thông đầu núi, trăng thanh chìm suối, tháng năm vời vợi. Tình em, như sương chiều xuống, mênh mông đồi núi, mờ trong bóng đêm.
     Biệt ly, hôn nhau lần nữa, trông nhau lần nữa, giá băng tơ trời. Bài hát chia phôi ban đầu, vắng tiếng kinh chiều cầu cho tình ái.
     Biệt ly, hôn nhau lần cuối, xa nhau lần cuối, nói sao cho vừa.  Chỉ thấy ánh mắt u hoài, nuối tiếc ân tình, trọn đời khó phai.
     Rồi đây, anh như ngàn gió phiêu du từ đó biết đâu hẹn hò. Rồi đây... em phương trời cũ quê hương tình ái còn vương mắt lệ.
     Tình yêu mong manh là thế xa xôi là thế xót xa tình buồn. Tình yêu thương đau từ đấy dư âm còn đấy. Lệ trong mắt ai.”   

(Trích: “ĐÀ LẠT NGÀY THÁNG CŨ”
Soạn giả: LS. Ngô Tằng Giao)

1.dalat.jpg - 117.83 Kb

Bạn đang theo dõi trang: Đà Lạt Ngày Tháng Cũ (Ngự Thuyết, Trần Huy Sao & Phạm Mạnh Cương) _ (Đà Lạt Ngày Tháng Cũ _#46)