Trước Và Sau Đêm Giã Từ Đà Lạt _ (Hoàng Vũ Đông Sơn) (Truyện)

  • PDF

IMG_7742.JPG - 21.61 Kb

TRƯỚC VÀ SAU
ĐÊM GIÃ TỪ ĐÀ LẠT
 

      Đức Sào Nam Phan Bội Châu trước lúc đi xa thật xa, Người đã ném lại cho đàn hậu tấn câu nói nặng như núi:
“Ví phỏng cuộc đời bằng phẳng cả
Anh hùng hào kiệt có hơn ai?”

     Mỗi người trong chúng ta hiểu câu này mỗi khác, người thì cho Phan Sào Nam đã cảm thán, khi Đức Ngài đã bị hãm vào tuyệt địa:
“ Chạy mỏi chân thì  hãy ở tù
Đã khách không nhà trong bốn biển
Lại người có tội giữa năm châu
Bủa tay ôm chặt bồ kinh tế
Ngước mắt nhìn xem cuộc óan thù…”

     Người thì bảo: đó là lời răn dạy sáng giá  nhất Việt Nam. Ý Sào Nam muốn bác khước lời một bài thơ của người đồng thời với mình là cụ  La Sơn Nguyễn Thành:
“Bổ thiên vô lực  đàm thiên dị
Tế  thế thi tài tị thế  nan”
     Nghĩa:
“Vá trời yếu sức bàn nghe dễ
Cứu nước không tài trốn  ở mô?"
              
HVĐS thóat dịch

     Riêng tôi thuộc lọai nhát nhúa, hèn kém đâu dám mon men đến gần các đấng anh hùng, các bậc hào kiệt. Chỉ có tí nhận định về lời dạy của tiền nhân. Đội đá vá trời hẳn nhiên là khó. Cứu đời! Đương nhiên là trách vụ công dân một nước. Nhưng; chưa trau chuốt được cái tài cho ra tài thì tự cứu mình cũng chẳng xong nên thấy “cõi người ta” cứ mặc nhiên nhìn và nhận chịu cái sự:
“Vạn dân nô lệ cường quyền hạ
Bát cổ  văn chương túy mộng trung”

     Đấy là hai câu thực trong bài Chí Thành Thông Thánh của Tây Hồ Phan Châu Trinh. Có người đã dịch ra thơ quốc ngữ:
“Muôn dân trói buộc vòng nô  lệ
Tám vế  thơ văn giấc ngủ nồng!”

     Những câu chuyện ba lăng nhăng bốn lít nhít, không đầu chẳng đuôi, chúng tôi nói với nhau trong đêm 30 tháng Ba, 1975 trên đường đi khi Giã Từ Đà Lạt.

     Những ngày tháng Ba 1975 là thời gian “chết”, mọi người Đà Lạt đều ngẩn ngơ, tà tà như  ốc mượn hồn. Anh bạn Nguyễn Sĩ người Đà Nẵng là cháu gọi Học giả Nguyễn Văn Xuân là bác cùng tôi ra thăm Sử gia Phan Xuân Hòa theo lời nhắn. Những băn khoăn về thời cuộc rồi chiến cuộc được Phan sử gia trình bày rất mạch lạc. Rất khác với những lần trước. Khi chúng tôi cáo biệt, Sử gia có dặn: “Nếu có biến cố, hai cháu cứ ra đây với bác”.

     Trong lúc chúng tôi ăn cơm chay với Phan sử gia thì có người đến kiếm tôi ở trường. Vừa bước qua cổng thì được Trung sĩ Mạnh cho biết như thế. Tôi hỏi bạn ấy:
- Thưa Điếm Trưởng, người đẹp hay xấu? Có  phì nhiêu và má đỏ môi hồng tới bến không?

     Anh ta cười khanh khách đáp:
- Người xấu. Thiếu tá Không quân. Ốm nhom, râu ria tua tủa. Ông ấy có dặn rằng: “Tên Thiếu tá lỗ về thì nói nó ra ngay Thủy Tạ.”

     Tôi hỏi lại:
- Đâu? Lời nhắn của hắn đâu? Mà người ấy tên gì chứ!…
- Ông ấy ngồi trên xe Jeep, mặc “giắc két”, có nhìn thấy tên tuổi gì đâu. À, mà ông Thiếu tá đầy ấy dặn kỹ rằng: “Thiếu tá lỗ phải ra trước 13 giờ, còn không thì ngày mai khỏang 11 giờ cũng ở Thủy Tạ.”

- Cám ơn “Ngài Đội” thật nhiều. Nhưng sao “Ngài” không bắt nó trình giấy tờ mới cho vào cổng để biết rõ thật giả. Biết đâu, lỡ nó là Thiếu tá lèo thì hố lớn đấy.       
- Thiếu tá thật, không lèo đâu. Ở trên mũ  lưỡi trai đen có khúc xương và cục mỡ trắng hếu! Tên tài xế ở “Trạm E kaki Đà Lạt” này, người anh em cùng xóm với đệ mà.

     Tôi rất thân với Phạm Quang Mạnh. Anh ta mở quán bán  đồ ăn trong trường. Sáng sáng tôi có tật dậy sớm, chạy một hai vòng quanh sân trường rồi tắm. Ăn sáng uống cà phê trong sương sớm, trong khi các quan lớn nhỏ đồng thời đồng khóa còn đang “mơ làm người Quang Trung”. Mạnh là em út ông Phạm Quang Nùng, bạn của một ông anh tôi. Khi chúng tôi gặp lại nhau ở phố núi lạnh lẽo ở không gian thì ít mà lạnh lẽo ở cõi thâm u nào đó thì nhiều nên có ảnh hưởng hỗ tương về lời lẽ qua lại, sự bỡn cợt cố tình để vơi đi những cay đắng của kiếp người.

     Nhìn đồng hồ tay rồi lại nhìn đồng hồ  lớn nới phòng trực đã là 13g 30. Sáng hôm sau, 10g 30 tôi đã có mặt tại Thủy Tạ để chờ. Vừa nhìn thấy mặt tôi nó “xổ” ngay một tràng tiếng Đức rất vui vẻ:
- Đ.M mầy Thiếu tá lỗ! Mất nước đến nơi rồi mà cái bản mặt mầy cứ nhâng nhâng nháo nháo. Dễ “ghéc”! Bộ thung lũng tình ái húc hết tinh anh của mày rồi hay sao…     
- Đã ghét còn tìm, còn kiếm, còn hẹn, còn hò gặp nhau làm cái “củ cải” gì cho rộn chuyện. Mấy tháng nay chay tịnh. Làm gì có tam tinh hải cẩu nhiều mà tinh anh.
- Không tìm, không gặp không được. “dzì” chúng nó  bắt phải bồng mầy về “nguyêng cong”, không thì  chúng nó giũa tía mày te tua nêng mới phải cất công đấy.
- Đồ mất dạy! Thấy người ta thất thế, đường bộ bị cắt rồi làm tàng. Đòi chơi kèo cao, đòi làm cha người ta hả? Còn lâu? Sống chết có số! Mày  ưa nghêu ngao thơ Hồ Xuân Hương lại quên rằng: “Đét đồn lên đánh ván cờ người”. Ơi, Giả ơi là Giả! Mày là Thiếu tá đầy, Thiếu tá thật 100% nhưng mày vẫn là “giả” trước anh em bầu bạn.

     Khi đã ngồi vào bàn bắt đầu nhâm nhi, nó cho tôi biết tình trạng hỗn độn ở Sài Gòn. Người khắp nơi về tị nạn chiến cuộc. Người Sài Gòn bỏ đi… Nó là trưởng một phi đòan gồm 3 chiếc C130 hàng ngày phải tiếp tế cho chiến trường Quân Khu 2. Nó có thể đón tôi về Sài Gòn ngay từ “bây giờ”…

     Tôi băn khoăn và “thỏ thẻ” với Giả về  những suy nghĩ của mình. Nếu như “bay” về Sài Gòn ngay:
- Tao đã một lần vì tức khí với…đã bỏ  đơn vị về, bị mang tiếng là hèn nhát, bị  nhục tại Tòa Án Binh bến Bạch Đằng. Những vị  ngồi ghế Chành Thẩm, Bồi Thẩm đều mập mạp phây phây, thơm tho như đượi thập thành xử tao theo luật này điều nọ, xỉ vả tao nhiều lời nghe ngứa tai quá! Đến khi được nói. Tao kể cà kê dê ngỗng cái sự khắc nghiệt của chiến trường và ”lại quả” quí quan Tòa, rất lễ phép ở thế đứng nghiêm trước vành móng ngựa rằng: “Thưa; có bao giờ quí vị chịu đói, chịu khát, bị những trận mưa pháo kích, bị tấn công bằng B40, B41 và AK, bị lạc vào bãi mìn cóc, sản phẩm của Hoa lục để sống dở chết dở rồi sống đời sống Thái Giám bất đắc dĩ…”
Không hiểu ông Quan năm Chánh Án động lòng trắc  ẩn nhiều ít ra sao. Tòa vào Nghị án ra tuyên phạt: “Hoãn thăng cấp 36 tháng. Bổ sung đơn vị tác chiến!”

     Liếc mắt thấy quan Chánh Án hơi cau mày. Đưa ghèn sang mấy người bạn mần báo bổ giả dạng làm người dự khán phiên tòa lén chụp hình và ghi âm. Có  lẽ “lời” nói phải chăng đó cùng với sự gởi gắm của bạn Đào Trọng Vinh, gốc Luật sư, bạn đồng khóa 3/71 Thủ Đức đang là Quan Tư Pháp của Không Quân nên mới có cái án  nhẹ hều như rứa…

     Thiếu tá đầy ấy cắt ngay lời trình bầy dây cà  rễ muống của tôi bằng lời khẳng định:
- Ba chiếc C.130 có thể bốc cả trường mầy về Sài Gòn cũng được. Mày về trình bày với  ông Quan Sáu chủ trường rằng mày có khả  năng giúp ngon ơ. Nếu ông ta chịu thì chính mày  điện thọai bằng hệ thống truyền tin về cho tao biết càng sớm càng tốt. Ngay chiều tối nay cứ gọi về Không Đòan Vận Tải, tao nghe và giải quyết. Nhớ nói rằng chỉ có người và vợ con em cháu chính thức. Miễn cái vụ chổi cùn rế rách lằng nhằng nghe chưa!   

     Tôi được đưa về đến cổng trường. Nó  còn nhắc lại lời dặn. Vừa vào đến sân thì gặp ngay Quan năm Huấn Vụ Trưởng, tôi nói cho ông ấy biết: “Bạn tôi có khả năng…” Quan mừng lắm, Quan mời tôi lên Quan lớn hơn. Quan năm vô phòng trước nói gì đó. Một lúc sau chính ông ra mời tôi vào gặp Quan sáu trình bày vấn đề sau khi trả lời Quan vài câu ấm ớ. Quan sáu cười cười nói rằng: “Trường ta và bên Võ Bị quyết tử thủ Đà Lạt. Lâm Trung tướng đã có kế hoạch. Vả lại, nếu áp dụng đúng chiến thuật thì địa hình Đà Lạt ở thế một người địch được cả ngàn người. Đất này là nơi đào luyện ra anh hùng hào kiệt cho cả quân đội. Tổng Thống không làm ngơ đâu. Bạn đừng có lo”. Lời nói của Quan sáu đầy vẻ Chiến Tranh Chính Trị.

     Chiều đó, một buổi chiều trung tuần tháng Ba. Chúng tôi đi nhậu ngòai khu Hòa Bình. Giã đám, tôi ghé qua cà phê Tùng vắng hoe. Thường thì từ 4 hay 5 giờ chiều Tùng mới đông khách. Sao hôm nay ghế ngơ ngác ghế, bàn ngơ ngẩn bàn? Cuốc bộ qua rừng thông chùa Linh Sơn về trường, dọc đường tôi mua một mớ bánh mì “ba ghét” mới ra lò đút túi áo khoát nhà binh cho ấm. Đêm nay sẽ làm khó được khối anh bỏ cơm chiều vì bị bao tử thét gào. Về đến quán cà phê không có tên của chị em nhà Túy. Chị Túy Đ đang dỗ một cháu bé, ép nó bú hết chỗ sữa còn lại trong bình xong, chị tự động đưa ra tách cà phê đen và cho biết: “Tất cả anh chị em đang mỗi người mỗi ngả kiếm đường để đưa cả nhà về xuôi, không được Sài Gòn thì Phan Rang, Phan Thiết cũng được”.

     Không được gặp Túy P như mọi ngày, cũng không không được nhìn thấy Túy H, Túy L, nhí nhảnh tôi buồn lắm. Mong cho chóng qua đêm để ngày mai ra gặp ông bạn Quan tư tàu bay.
Nghe tôi trình bày về cuộc gặp gỡ với ông Quan năm rồi Quan sáu; quý vị ấy tự cho mình là trọng thần trấn ở cõi ngòai để tỏ  dạ trung thành với đức “Vua”... Quan tư  tàu bay xài tiếng Đức:
- Đ.M, cái têng người ta nó quang trọng thiệc. Đàn bà cong gái mang tên một lòai hoa, hoa càng quý thì  không khổ về vật chất cũng đau về tinh thầng. Còng đàn ông cong trai thì sớm nở tối tàng, có  lọai tàng ngay trong đêm. Còng lâu hoa mới nở thành sao. Đ.M…
- Thôi mày! Tên là do cha mẹ đặt cho từ khi còn là thằng cu cái tí oe oe, chả ai tự  đặt tên cho mình được, trừ bút hiệu. Còn ngọai hiệu tốt hay xấu là do đời ban phát cho. Bộ thay tên đổi họ dễ lắm sao? 
- Ai chả biết dzậy. Nhưng đôi khi cha mẹ muống cong cái sau nay làm khanh làm tướng nêng đặc têng kêu như chuông. Nhưng gõ dùi dzô nó lại kêu bình bịch như chì văng cẳng đấy.
- Mày đểu nó vừa vừa thôi. Đành rằng trong cuộc sống lọan ly này; có được ít phút nói rỡn chơi cho thỏa, cho lãng quên đời là tốt. Nhưng tên họ người ta mang ra diễu cợt là không nên. Tổn âm đức lắm đấy!
- Thôi thì thôi! Đ.M nghe đau tai rồi hả? Mầy quyết  định đi hay ở? Ở thì khỏi nói làm gì. Còn  đi thì cho biết điểm hẹng, Qua cho tụi nó rước. Cho “cưng” được phép mang theo một vài gia đình họ hàng hay bạn bè thân thiết, đừng quá mười mạng là tốt. Thời gian này Không Quân Chuyển Vận là cha, cửa sông cửa biển Hải Quân là ông nội. Cha và ông nội đâu phải chia động từ “tu năn nỉ” với lọai cháu chắt mất dạy như mầy. Bây giờ thì ra xe, chúng ta đi nhìn đường phố “Đa Lạc” thoi thóp ở những giờ phút cuối cùng này để rồi mai mốt nó thành “Đa Bi”chứ chả còn đa ưu đa sầu văn nghệ như Chế Linh nhừa nhựa: “Thành phố buồn nhớ không em. Ngày chủ nhật ngày của chúng mình…”

     Cái số tôi nó kỳ cục làm sao ấy. Tôi muốn mọi người yêu mến tôi, dại gì để chúng nó  ghét. Thế mà cứ bị ghét mới đau. Vì chẳng cầu xin van lạy mà tôi vẫn được, chẳng uớc mà cũng thấy phây phả, ít đổ mồ hôi hơn anh em. Mà anh em thì tài chí hơn tôi cả ngàn lần. Ngày ở Thủ Đức, tôi ở trong ban biên tập báo “Bộ Binh” của trường. Lên đây, anh em hàng xứ cả cũng chọn tôi vào chức vị Ủy Viên Chính Huấn của khóa học. Tôi “có quyền tuyển lựa tài tử” đưa vào các chức vị để cùng nhau rong chơi thỏai mái, xuất nhập trại tự do. Đôi khi nhà trường còn ưu ái cấp cả phương tiện xe cộ. Còn tất cả anh em trong khóa, tôi xin với Quan Huấn Vụ Trưởng cho anh em được tự do tối đa sau giờ học. Những chỗ “cao sang” quá cỡ như Place… thì không nói làm gì. Còn các quán hàng thường thường bậc trung trở xuống thì lố nhố khóa sinh “Cục Ta Cục Tác”. Cái tên nói biến âm kiểu mã hóa truyền tin này lại của các chiến hữu khác nghành gọi như thế. Còn mang một y gì thì đến nay (2005) tôi cũng chưa được “thông” cho lắm.

     Chỉ có một lần tôi phải tuân lệnh nhàtrường qua miệng ông Quan Năm Huấn Vụ Trưởng là tất cả “ở nhà” nghe một sĩ quan từ Ban Mê  Thuột về kề chuyện chiến sự bên đó. Tự biết, cái thân tôi không đủ hấp lực để bằng lời nói yêu cầu anh em “ở nhà” nghe chuyện Ban Mê Thuột anh dũng. Trong anh em tôi, đã có nhiều “ông” xài tiếng Tây Ban Nha, cho là chuyện ruồi bu… Với tình hình như thế, tôi thỏ thẻ với quan trên cho đóng cổng trường . Khóa sinh chỉ có nhập chứ không xuất. Nhiều người oán giận tôi, căm ghét tôi vì mấy tháng ở phố núi này không có tý gì vắt vai nên lấy cớ trút căm giận lên tôi. Những người có tí “thung lũng tình yêu” chỉ hơi bực phải hát bài Hùng Cường hay hát: “Một chăm em phần chăm em ơi! Chiều nay lại cấm chại dồi.”

     Ngay chiều hôm sau, trên đọan đường từ cổng vào trường, cứ từng tóan từng tóan 5 hay 7 người đi ngược chiều với tôi, họ tự động đổi chân vào hàng một, bước đều hát: “Từ Bắc dzô  Nam, tay cầm bó rau. Tay kia cầm sợi dây gân, lại dắt con cầy”.

     Bài hát của Trịnh nhạc sĩ đầy hướng “đi lên”. Thái độ và lời ca của họ làm cho “đi xuống”  chỉ với mục đích “chơi” một mình tôi cho bõ ghét. Những người thương tôi, quanh tôi thấy tôi buồn buồn định có “cảm ứng”. Quan hai Nguyễn Văn Vượng bạn của anh tôi “mần” một buổi thăm dò, biết ngay người đầu têu là ông Quan ba. Ông này vừa mập vừa lùn, ưa phê phán, ưa đặt chuyện tiếu lâm, ưa chơi đòn ngầm. Thế nhưng ông ta lại không khẳng định được mình để anh em bầu vào bất cứ một chức vị nào. Nhất là chức vị Trưởng Ban Văn Nghệ nên ông ức. Ông lại được bạn Vũ Triệu Khải “mời” vào ban Hợp ca, hát ở bè cao.

     Chuyện nhỏ nhưng có vẻ nhức nhối vì  nó xúc phạm đến gốc gác “Rau Muống”  và những “Con Cầy”,  những viên đá”Cọc Cạch Lửa”. Thật oan cho cá nhân tôi. Tôi là thứ Bắc kỳ mất gia phả. Cho đến bây giờ (2005) tôi vẫn chưa bắt mùi được với thuốc lào. Không có thuốc lá thì nhịn, hút thuốc lào là bị “sặc” khổ sở lắm. Còn cái món “cây còn” thì sau 30.04.1975 tôi mới tập ăn. Ngon thật! Những ngày khoai, sắn,bo bo, mà được nhâm nhi, đưa cay bằng một đĩa lòng ranh con để thấy cổ nhân ta có cao kiến thật:
“Sống ở trên đời ăn miếng dồi chó
Chết xuống âm phủ biết có hay không?”

     Cái chuyện Ban Mê Thuột vững như bàn thạch, quân ta đẩy lùi các đợt công kích của địch theo lời Thuyết Trình Viên chẳng gây được tý phấn khích nào. Trong số những người lớn tiếng đòi đi giải tỏa áp lực cho Ban Mê Thuột có ông Đại úy “hẩu xực” món thịt cầy ở khu Du Sinh. Ông lại biến cải lời ca của Trịnh Công Sơn đã diễu tôi.

     Cuộc sống vẫn tiếp diễn nhưng có cái gì bầy hầy trong mọi sinh hoạt của Quân Trường. Sáng sáng không còn vụ tập thể dục. Lớp học không còn sinh khí như những ngày đầu. Linh mục Nguyễn Văn Vàng và Chuẩn tướng Nguyễn Chấn là hai vị  “Giáo sư thỉnh giảng” cuối cùng đến “NÓI” rồi đi.

     Sáng hôm sau trong giờ học có một sĩ quan Biệt  Động Quân vào gặp Dũng “hẹn ra Palace gặp người nhà”. Dũng rủ tôi cùng đi cho vui. “Người nhà” của nó  là một người đàn ông ngồi riêng một bàn, mặc quân phục “Hoa Màu Đất”, dáng mệt mỏi chán chường nhưng vẫn toát ra oai phong lẫm liệt khiến người đối diện phải nể vì. Nó giới thiệu tôi với ông ta:
- Thưa anh, đây là người bạn thân nhất của em ở  đây. Nghe anh đang ở Ban Mê Thuột sao lại còn thì  giờ qua thăm em?  
- Làm gì còn Ban Mê Thuột nữa mà ở. Di tản chiến thuật cả rồi. Anh đưa đơn vị qua đây bằng đường bộ rồi về xuôi. Thấy Đà Lạt vẫn im như thóc. Chả biết ra làm sao nữa. Hỏi  ông Tướng ở Võ Bị, ổng biểu còn đang chờ lệnh. Còn ông Tá đầu tỉnh và Tá trường các cậu cứ phải nhìn ông Tướng mà nhúc nhích theo. Bây giờ: Một là về thu xếp, nhớ là cấp cho cậu bạn đây một bộ đồ của mình rồi cùng đi. Hai là ở lại theo trường. Đuợc thua, sướng khổ, sống chết có số cả. Không biết sợ là ngu! Nhưng sợ quá hóa hèn để sống cũng chẳng ngon lành gì. Nghe chưa!  
Dũng và  tôi đều cất tiếng “Dạ” sau lời nói của  ông. Ông tiếp:
- Coi thực đơn, thích ăn món nào cứ ăn, thích uống cứ uống cho thỏa thích.
Chai “Hennessy” trên bàn gần như còn nguyên được nâng lên đặt xuống cho đến cạn. Tôi không nhớ Dũng đã kêu những món gì thêm vào những món đã có trên bàn. Restaurant của khách sạn kiểu Tây mà Mít là thực khách ăn uống theo kiểu chia ngọt xẻ bùi chứ không mỗi phần riêng kiểu Phú Lãng Sa. Đồ ăn ngon, chỗ ngồi “ngon” nhất Đà Lạt nhưng cả ba người chỉ ăn đại khái. Ông anh của Dũng không hề đụng đến dao, muỗng, nĩa. Ông chỉ uống, uống rất từ từ. Ngòai trời mưa lất phất. Cả không gian chìm vào nỗi nhớ nhớ quên quên với mù mù lam tím. Rừng thông bạt ngàn im lìm như đang uất nghẹn nên cành lá tất cả đều gục xuống buồn. Xe đưa chúng tôi về. Qua nhà Khải, định ghé chơi rồi đi về trường bằng xe Honda của nó đem từ Sài Gòn lên. Nhưng sau một hồi chuông dài, ông Đại Úy là sĩ quan Nội Dịch của nhạc phụ nó ra cho hay:
- Cậu Khải vẫn chưa về ăn cơm chiều. Chả hiểu  đi đâu nữa không biết. Từ trưa đến giờ  cô ấy gọi điện thọai lên ba lần rồi mà  không được nói chuyện với chồng. Nghe có vẻ  thúc hối lắm.    

     Đến khu Hòa Bình, Dũng cho xe về. Chúng tôi lên trú mưa ở cửa rạp xi nê. Rạp đang chiếu phim cao bồi Mỹ. Hình như phim “Đứa con của Bố Già”. Mưa tạnh, khí lạnh bốc lên. Những khuôn mặt lì lì vô hồn hờ hững bước đi ngòai phố, lên xuống dốc Hòa Bình. Tán nhảm với mấy em bán thuốc lá, kẹo cao su…ở cửa rạp mãi cũng chán. Tôi hỏi Dũng:
- Này, anh của mày là ai mà có vẻ uy vũ  cứ như là ông Tướng vậy? 
- Thì đúng là Tướng đấy! Ông là tư  lệnh một Liên đòan Biệt Động Quân lên tăng phái cho Quân Đòan II. Mày không nhìn cái xe có bao da phủ cái bảng hình chữ nhật đằng trước à? Với lại xe có “cần câu” tua tủa dài ngắn thì phải là giới chức nào chứ! Tao cứ nghĩ mày không những biết mặt mà còn biết cả tên anh tao nữa. Tao chưa hiểu sao mày lại lờ đi như chó thấy thóc.
- Oan cho tao. Tao chỉ biết một số người vì công việc hoặc tình thân. Tao có là thánh đâu mà cái gì cũng biết, ai cũng quen. Mày cho tao đi tàu bay giấy đấy Dũng ạ.

     Nghe tôi thanh minh thanh nga, nó nở một nụ cười rất tươi và không thèm nối lời tôi nữa. Bản chất Dũng hiền lành, ít nói, luôn luôn có nụ cười trên môi. Nếu không có cái mũ nồi màu nâu vàbộ quân phục Binh Chủng che chắn tấm thân gầy ốm, cái mặt thư sinh thì ai cũng cho rằng nó là một giáo viên Tiểu học. Ai ngờ nớ đang là Sinh Viên Cao Học Triết mà phải đi ắc ê mới đau.

     Tôi đã một lần chạy bộ từ Quảng Trị  về Huế. Danh từ gọt giũa cho đẹp là Di Tản Chiến Thuật cái ngày “Mùa Hè Đỏ Lửa”  trên “Đại Lộ Kinh Hòang” – Danh từ  của nhà văn Phan Nhật Nam và Báo Chí. Kinh nghiệm bản thân là nếu ở lại với trường thì cầm chắc là “Di Tản Chiến Thuật”, cầm chắc là đường không rộng thênh thang để cử bộ như cụ Thượng Trứ lúc về vườn. Vác được tấm thân đi là quý. Còn “đồ tế nhuyễn, của riêng tây” cứ coi như cảnh gia biến nhà cô Kiều năm Gia Tĩnh triều Minh. Dũng mũ nâu, Đức trinh sát, vài bạn mũ đỏ mũ xanh trong nhóm đều rành “sáu câu vọng cổ” hơn tôi. Nên chúng tôi chẳng cần chuẩn bị gì ngòai vũ khí cá nhân.

     Vào trường; thấy từng nhóm từng nhóm Cao cấp, Trung cấp hay Căn bản đều túm tụm nhỏ to, thì thèo như buôn bạc giả cả lũ. Dũng và tôi không hề hé răng cái chuyện ông Tướng, anh nó phải phá trùng vây từ Buôn Mê Thuột sang đây. Ban mê Thuột đã mất. Anh em nghe Radio đài Sài Gòn, VOA hay BBC rồi cũng biết.

     Đà Lạt yên ắng quá! Không một tiếng súng to nhỏ vọng về. Đêm dài mà sao tôi không mộng mị? Chưa sáng hẳn tôi đã xuống quán của Mạnh uống cà phề chờ bình minh. Tiễn tôi ra cửa, Mạnh dúi vào tay tôi bi đông cà phê. Nó nói:
- Hôm nay, các anh sẽ “được làm anh hùng bảo vệ thị xã, bảo vệ cái phi đạo duy nhất”. Nếu không đích thân ra thì em cũng gởi xe tiếp tế cà phê thuốc lá ra cho anh. Yên chí là không bị cai bất tử đâu. 

     Chúng tôi cầm tay nhau, cái sự xã giao thường thức  ấy vốn đã không còn trong chúng tôi từ lâu. Cầm tay nhau rồi, hai cái bản mặt cứ nghệt ra nhìn nhau ái ngại rồi cùng quay mặt. Về đến phòng tôi cho hai bộ đồ lót, bàn chải và thuốc đánh răng cùng bi đông cà phê, thuốc rời, thuốc điếu và cái pipe vào cái”sắc” nhỏ đặt ở đầu giường để được lệnh là đi. Khi các bạn trong nhóm dậy và làm vệ sinh cá nhân xong. Tôi có thông báo hạn chế cho vài người biết: “Chúng ta sẽ phải làm người hùng từ hôm nay. Quần áo có lẽ nhờ nhà thầu giặt gởi xe tiếp tế ra cho là hay nhất”. Thiếu cái ba lô mà phải làm binh sự kể ra cũng phiền.

     Chúng tôi, một đại đội khóa sinh tòan sĩ quan cấp Úy ra giữ phi trường Liên Khương thay thế  cho một đại đội Địa Phương Quân Tuyên Đức - Đà Lạt có nhiệm vụ khác. Trước hàng quân, Đại Tá NQQ Chỉ Huy Trưởng có nhắn nhe chúng tôi về Tổ Quốc Danh Dự Trách Nhiệm của một quân nhân phải…nhưng chẳng ai nghe vì biết rằng ông Quan sáu này muốn lấy điểm với thượng cấp mà “đem con bỏ chợ”.

     Gần trưa hôm sau tôi nhận được một thùng nhỏ  đồ dùng gởi theo xe tiếp tế. Có bi đông cà phê, chai rượu mạnh, vài miếng khô bò, mấy con mực khô, tôm khô và một phong thư của thiếu tá Đòan Đức Hối, Nguyên Trưởng Phòng Thông Tin Báo Chí và Giao Tế Dân Sự Quân Đòan I rồi ra làm Tham Mưu Phó Chiến Tranh Chính Trị Sư Đòan 3 Bộ Binh. Ông xếp cũ của tôi ở cả hai nơi đó. Rời Sư Đòan 3, ông trở lại Quân Đòan, bây giờ gặp nhau tại đây. Ông học khóa Cao Cấp. Là thuộc cấp của ông nhưng ông lại thích cái kiểu bỡn với danh chức của tôi mỗi khi có gì đó khó nói. Lá thư ông viết rất cẩn thận, có thể suốt đêm qua ông không ngủ để đi đến một quyết định

     Trong thư, lúc ông gọi tôi là Tán Tương Quân Vụ  nhí, khi gọi là Chính Ủy ranh con. Ông dặn tôi: “Ở Mạc Phủ ngày ngủ đêm thức. Cố giữ  lấy thân. Còn ông, ông phải về Nha Trang…xem gia đình có Di Tản vào đó hay không. Đà Nẵng mất rồi, tin tức mù tịt nhưng tôi cứ phải đi. Hy vọng sớm gặp nhau ở Sài Gòn để lai rai.”

     Phi trường Liên Khương ngày nắng, mưa hiu hắt. Đêm lạnh vô cùng. Hơn 100 sĩ quan, những người quen cầm bút cầm cọ cầm đàn… nay cầm lại súng có cái gì ngượng ngập. Nhất là lệnh lạc ban ra hòan tòan tình cảm, kêu gọi mọi sự tự nguyện để gánh vác trách vụ, để bảo vệ mình và bảo vệ anh em. Đại đội chia ra đóng ở các “lô cốt” dọc phi đạo. Trong “lô cốt” đều có sẵn súng đại liên, rất nhiều đạn và lựu đạn để tha hồ bóp cò và ném đi khi cần. Còn vũ khí cá nhân là Carbin M1 để chọi với AK. Lệnh cấm đốt lửa nhưng chúng tôi vẫn đốt lửa để ca hát, ngâm thơ, nói chuyện tiếu lâm… Đúng là chúng tôi đang thách đố với tử thần, những bạn có gốc Biệt Kích, Trinh Sát hay Quân Vận nhìn về phía Tây, núi rừng sáng lên bởi ánh đèn từng xa đòan rồi phân lọai vanh vách, đếm số lượng. Chúng tôi nghe thấy cả tiếng xe gầm gừ lên dốc. Hai ngày ba đêm bắt khóa sinh ra bảo vệ phi trường, chắc ông Quan sáu đã có báo cáo đẹp với thượng cấp. Chúng tôi được đón về trường cũng như lúc đến không nhận bàn giao thì khi đi cũng vậy.

     Người anh em của tôi, Trung sĩ nhất Mạnh, tôi vẫn gọi đùa là “Tiên Sư Một” làm  ở văn phòng Chỉ Huy Trưởng đón tôi tận đầu xe. “Tiên Sư Một” cho tôi hay: “Trong hai ngày 25 và 26 (tháng 3.1975) ông Thiếu Tá phi công có vào trường, có hài danh tánh và cấp bậc của anh ra chửi rồi văng tục tùm lum trước khi quay xe đi”.

     Tôi cứ ân hận mãi là tại sao lại không giới thiệu Thiếu tá Hối và các bạn ở Quân Đòan I với Giả để giúp các ông ấy phương tiện hàng không ra Nha Trang, Quy Nhơn cho đỡ nguy hiểm. Tôi nhớ mãi tấm chân tình mà quý quan lớn trong nghành đối đãi với tôi khi còn phục vụ dưới trướng họ như Đại tá Phan Phiên, Trung tá Trịnh Thiên Khoa, Thiếu tá Đòan Đức Hối và Đại úy Nguyễn Phi Hường là những bậc thầy, bậc đàn anh khả kính, yêu thương tôi như một “cuc cưng” đã không để cho đói lạnh bao giờ.

     Những ngày ngóng chờ phép lạ qua đi. Quan tư  tàu bay không bay lên nữa. Được tin Đà Lạt sẽ tử thủ! Tử thủ với vài trăm tay súng của Tiểu Khu Tuyên Đức cùng Sinh Viên Sĩ Quan Võ Bị Quốc Gia, Sinh Viên Đại Học Chiến Tranh Chính Trị và hơn 100 Sĩ Quan Khóa Sinh?
Đà Lạt vẫn thanh bình vì có dốc Hòa Bình đi lên đi xuống, có đồi Cù thông reo vi vu mời gọi. Đà Lạt tĩnh lặng vì người ở Đà Lạt cho đến giờ phút ấy vẫn không hề nghe thấy một tiếng súng to nhỏ nào. Không có lệnh cho nghỉ học nhưng mọi người đều nghỉ. Những anh cạn láng, mỏi chân ngày hai bữa về gặp nhau ăn cơm nhà bàn đêm ngả lưng trên giường ba hoa thế sự rồi ăn hàm thụ, uống hàm thụ ở các vùng đất đã qua.
    
    
Gần trưa ngày 30.3.1975, lệnh tử thủ Đà Lạt  được chính Đại Tá Chỉ Huy Trưởng ban ra xong. Ông cùng Mạnh đã áo giáp nón sắt vũ khí chỉnh tề ra bờ suối cạn có cây lá mọc tùm lum ném một trái MK2 xuống suối. Mạnh ném xong trái lựu đạn nổ dòn, đanh rồi nhảy lên ghế sau xe Jeep đi cùng Đại Tá. Ai cũng biết đó là điềm bất tường. Sau đó là tất cả khóa sinh được trang bị Carbine M1, đạn thì cho tự do, muốn lấy bao nhiêu cứ việc. Mỗi người còn phải nhận một “ruột tượng” gạo đầy nhóc khỏang 5 hay 7 ký. Tôi lấy gạo và hai băng đạn 14 viên rồi về ngồi lại giường lau chùi qua loa. Đức, Dũng, Vượng…còn làm nhanh hơn tôi. Họ rủ tôi ra chợ mua lương khô. Cả chợ, cả cửa hàng cửa hiệu bánh kẹo đều hết veo. Kiếm mãi mới gặp một bà bán khoai lang dẻo. Chúng tôi mua mỗi người hai ký. (Đó là lương thực của nhóm chúng tôi suốt hành trình từ Đà Lạt đến Phan Rang).

     Cổng trường mở rộng, chẳng ai bảo ai nhưng đều đi như chạy, về như bay để “tử thủ”. Không biết sẽ trấn giữ ở đâu? Núi Voi, núi Lâm Viên, đèo Prenn, đèo Ngọan Mục? Chẳng lẽ giữ hồ Xuân Hương hay nhà thờ Con Gà, chùa Linh Sơn ?

    Ngày 30.3.1975 Đà Lạt không mưa. Buổi chiều nắng vàng rực rỡ. Thiếu mất cái lạnh mơn man da thịt thường hằng khi có nắng vàng chiếu xuống mặt hồ gợn sóng, chiếu xuống rừng thông bạt ngàn. Trời trong xanh, từng cụm mây trắng lang thang tụ rồi tán bay về hướng Đông. Một tiếng nổ long trời lở đất bên trường Võ Bị Quốc Gia. Bàn dân thiên hạ nhốn nháo. Những “con nhạn ưa lạc bầy” cũng vội vàng bay về trường như tìm về cõi trú. Riêng nhóm mấy người chúng tôi ngồi nhậu ngay vỉa hè đầu đường Duy Tân. Ngồi đây nhìn bao quát được khu Hòa Bình là trung tâm của Đà Lạt. Chúng tôi uống tất cả các lọai rượu đã đóng chai là đặc sản ở đây như dâu, mận, ác-ti-sô…nên đều lạng quạng trong lời nói. Những lời nói bốc đồng làm mích lòng nhau. Tôi không nhớ là ai đã nói lời gì xúc phạm anh Vượng khiến anh đổ quạu với tất cả mọi người. Anh phanh áo ra nói:
- Tao là lính chiến chứ không phải thứ lính nói dóc như tụi bay. Hãy nhìn chiến thương của tao đây.  

     Tất cả cười hô hố như chọc quê  anh. Thuận miệng tôi nói:
- Thế sao quan không “chiến tiếp” mà lại đi học để vào cái nghành cục ta cục tác này làm khỉ gì? Bộ nói cho người ta nghe mà vẫn giữ được phong độ không hèn không bị liệt vào lọai cà chớn chống xâm lăng dễ lắm sao? Với lại thương tích cũ không phạm tim hay”gáo”. Nếu nó trúng vào đó thì Quân Y Sĩ chê liền.

     Lời qua tiếng lại đang rôm rả thì Phạm Quang Mạnh chạy Suzuki qua ngoắc tôi ra nói nhỏ: “Từ  từ về đi anh. Sắp sửa xuống núi đấy!”  Trở lại chỗ ngồi, kêu tính tiền. Đức anh dũng làm anh hai chi địa. Dọc đường về trường, anh Vượng còn nhiều lần rủa xả rồi thách đố tôi có gan thì lấy Colt 45 ra bóp cò đúng vào tim hay trán anh. Vốn biết đàn anh tự ái “trên chiếu rượu”, tôi định rút súng ra hù anh chơi cho bõ ghét. Nhưng sờ đến súng. Súng đã biến mất. Chỉ có bịch khoai lang dẻo. Dũng cười hề hề tháo đạn đút vào túi quần còn súng thì đưa cho Đức. Đô đốc Hoa là Hải Quân Trung Úy tên Hòa, chúng tôi gọi đùa là Đô đốc Hoa vội vàng ôm cứng lấy tôi. Dũng và Đức” tước súng” của tôi nhanh gọn quá, Hòa không thấy nên cu cậu sợ hỏang. Đức rút súng ra ;quay như cao bồi Viễn tây Mỹ. Nó hề hề nói:
- Đô đốc Hoa! Buông nó ra. Có thách có  đố nó cũng không dám lôi cổ súng bắn nước ra giữa đường đâu mà sợ.

     Tất cả cười xòa. Anh Vượng cười lớn tiếng nhất. Có vài nhóm đi trước đi sau, thấy chúng tôi vui vẻ đều bước dấn lên hay đứng chờ để nhập bọn. Vài anh cao hứng thật hay cố che chắn nỗi buồn đã bất chấp tất cả để tự làm “quản ca” bắt nhịp hát: “Ngày bao hùng binh tiến lên! Bờ cõi; vang lừng câu quyết chiến…” Phản xạ tự nhiên, anh em đều đổi chân, bước đều và hát vang như ngày còn là Tân Khóa Sinh ở Thủ Đức. Bây giờ nghĩ lại, không hiểu tâm trạng anh em tôi có giống như tâm trạng chiến binh Pháp khi bị quân Đức đánh chiếm đất nước, rồi chính quân Đức bị “Ông tướng mùa Đông” làm cho bái xái ở Nga? Cuối cùng chúng tôi cũng bước qua cổng trường, vào phòng nằm kềnh ra giường “thở chơi” cho lại sức.

     Nhóm chúng tôi tự biết không có sức khỏe và  tí kinh nghiệm di tản của tôi nên không cần thứ  ngọai thân chi vật. Ngòai “vợ ta là súng Carbine” như một thứ trang sức, còn tất cả, tất cả đồ “đồ tế nhuyễn”, của riêng ta bỏ lại hết, kể cả ruột tượng gạo, đạn và lựu đạn.

     Từ chối “thăng” bằng đường Hàng Không Quân Sự, từ chối “biến” với Biệt  Động Quân. Bây giờ tôi và bằng hữu chỉ còn cách buông xuôi, mặc cho số mệnh muốn đến đâu thì đến. Lời ông anh của Dũng vẫn vang vang bên tai: “Được thua, sướng khổ, sống chết có số cả. Không biết sợ là ngu. Nhưng sợ quá hóa hèn để sống cũng chẳng ngon lành gì!”

     Tối hôm đó (20h 00 ngày 30.3.1975) đòan quân không ba lô, không có dây ba chạc, không súng ngắn, không áo giáp, không nón sắt. Đòan quân “Năm Không” như thế được lệnh lên đường. Ra khỏi cổng ngòai, tôi yêu cầu anh em chầm chậm bước để tôi ghé vào quán cà phê không có tên của chị em nhà Túy. Cả nhà đang chuẩn bị chất nhau lên hai xe du lịch để rời Đà Lạt. Túy P đang đứng lớ ngớ ở đầu xe, nhìn thấy tôi, cô bước vội ra, kéo cổ áo tôi, ghé sát vào tai, đọc:
“Đi đâu cho thiếp theo cùng
Đói no thiếp chịu lạnh lùng thiếp cam”

     Nghe Túy P thỏ thẻ bằng ca dao tôi cảm động đến rụng rời đổ đốt. Bình thường thì  bạn bè và kể cả tôi sẽ cười lên hô hố vì cho là cải lương chi bảo. Nhưng ở hòan cảnh này, bạn bè vây quanh “chúng tôi”, chúng nó đều nghệt mặt ra nhìn. Nín thinh. Tôi cố mãi mới giải thích được với nàng rằng: “Anh là thằng cu đang phải đeo súng, chưa biết sống chết ra sao. Em là cái tí và chỉ là sinh viên năm đầu của Chính Trị Kinh Doanh đã được ra “kinh doanh” đâu mà sợ. Xông pha theo anh làm chi cho mệt…”

     Không để cho tôi dài dòng. Túy P nói:
- Bây giờ chỗ trên xe không còn, thôi thì em giải quyết theo như chị Túy Đ, chị ngồi lên lòng anh Đạt, em ngồi lên lòng anh. Xe ba em lái. Ba vào  đón má ra là đi ngay xuống Phan Rang.

     Tôi nhìn các bạn đang vây quanh rồi lắc đầu:
- Cám ơn Túy P. Anh phải đi với các bạn anh. Tình chiến hữu mà. Xin chúc cả nhà đổ dốc về  xuôi an lành. Nếu có duyên và có nợ nữa thì chúng mình sẽ gặp nhau ở một ngày mai không xa. Còn bây giờ thì:     
“ Xin chia tay nếu là giã biệt
Thêm một lần xin mãi mãi chia tay”

     Túy P ôm mặt chạy vào quán. Tôi theo các bạn. Chúng nó  nhâu nhâu nhận xét rồi phê phán “giũa”  tôi tơi bời rằng: “Nền ái tình của mày cũng cao vun vút như đỉnh Lâm Viên cớ sao mày không đáp ứng để nó trở thành khoai lang dẻo. Đồ đần độn cù lần! Thơ với phú gì như “củ cải” ấy. Cái gì là “giã biệt” với “mãi mãi chia tay”? Thơ của mày hay thơ của ai mà hay quá vậy cu? Nghe có vẻ “nửa đường đi xuống”. Tôi đáp; thơ của thiên hạ là người Tây U nào đó, người ta dịch ra như thế ở trên đầu một bài báo.
- Báo nào?
- Báo Chính Luận.
- Tác giả bài báo là ai?
- Nhà báo lớn Nguyễn Tú, có người cầm tay lên cho. Nhưng ông ấy viết về những cái to lớn, bao quát cả nước chớ không là cái việc cỏn con của một Đà Lạt hay nhỏ mọn “tình anh lính chiến” của mình đâu mà gán ghép.
- Còn Đạt là tay nào?
- À, ông ấy là Quan ba, Chánh Văn Phòng của một Cục Trưởng dưới Tổng Cục đấy. Thắc mắc cái chuyện ruồi bu con cu gáy sáng làm gì. Đi!
Đòan “lính chướng” tòan quan là quan này coi như bị Đại tá Quỳnh bỏ rơi. Vai hờ  hững cây Carbine M1, lóang thóang có người xách cặp Samsonie, hầu hết là túi du lịch. Chỉ có mấy người chúng tôi là hai tay vung vẩy-“Của riêng ta”, ta đút vào 4 túi áo “phiu gia két”, 4 túi áo “Tây du” và 6 túi quần. Ổn quá!

     Ra đến khu Hòa Bình đã nhìn thấy vài quan mở túi vất bớt đồ đi trước khi qua cầu hồ Xuân Hương. Đến đầu cầu bên kia, nhiều người đứng lại ngước nhìn lên tháp chuông nhà thờ Con Gà làm dấu thánh giá. Đòan quân đi có cả Trung tá, Thiếu tá Khóa Sinh Cao Cấp đi dọc theo bờ hồ, lên đỉnh dốc, ai cũng quay đầu nhìn lại tòan cảnh Đà Lạt đèn vẫn sáng.

     Cuộc dạ hành lên đèo xuống dốc bình an rồi cũng tới được địa giới Phan Rang. Khi qua đèo Ngọan Mục, trăng sáng vằng vặc mà chẳng thấy “ngọan mục” tí nào. Nhà máy Thủy điện Đa Nhim vẫn ì ầm chạy máy như không có chuyện gì xảy ra. Đòan quân đi miệt mài không có vụ ngừng nghỉ. Lúc đến “đồng bằng” thấy trường Võ Bị Quốc Gia, trường Đại Học Chiến Tranh Chính Trị đóng quân giữa đồng xa bìa rừng. Trong đám người bị bỏ rơi có một ông Tá văng tiếng Tây Ban Nha: “Đ…M.Tướng Tá “củ cải” gì mà cho quân đóng giữa cánh đồng, không có tí gì địa vật ngăn che, không hầm không hố. Nếu bị tiền pháo hậu xung thì đi tàu suốt hết. Anh em chúng ta cứ ở bìa rừng này, lợi dụng mấy bóng mát, cây cối và gò đống che chắn cho phần nào hay phần nấy. Thứ nhất là đỡ phải phơi nắng Phan Rang. Có tịch mịch cũng mát mẻ. Nào! Kềnh xuống cho khỏe cái thân.”

     Đó chỉ là ý kiến riêng. Còn quân lệnh vẫn phải ra giữa cánh đồng phơi nắng “cho vui”.
Rồi một đòan trực thăng đáp xuống. Xa xa tôi nhìn thấy Trung tướng Nguyễn Văn Tòan bước xuống. Ông cầm gậy chỉ huy chỉ trỏ lên trời xuống đất hướng về phía Bắc. Tôi gọi to tên ông, chạy đến với ông nhưng lính của Đại tá Quỳnh lên đạn súng và giữ tôi lại. Ai cũng bảo tôi là thằng điên. Họ điệu tôi đến cho thượng cấp xử. Người xử tôi là Trung tá Huấn Vụ Trưởng.

     Ông không “lên lớp” như ở trường, thái độ của ông hòa nhã ngòai dự tưởng. Tôi thưa với ông rằng:Tôi xin yết kiến Đại tá Chỉ Huy Trưởng với ba cái tại sao:
1. Tại sao không đáp ứng thỉnh cầu của tôi để cả trường về Sài Gòn bằng đường không vận?
2. Tại sao lại bỏ rơi chúng tôi, bắt chúng tôi phải đi bộ, phải đói khát cả một đọan đường dài gần 100 cây số?
3. Tại sao không cho tôi gặp Trung tướng Tư Lệnh Quân  Đòan III để xin phương tiện cho cả trường về  Nam?

     Tôi nói hết cái tại sao thứ ba mới thấy mình hố. Trong thực cảnh này, ông Tướng có thương tôi cũng chỉ can thiệp cho cá nhân tôi, cùng lắm thì vài người bạn thân. Còn cả ngàn người trong trường thì…

     Trung tá Huấn Vụ Trưởng hứa: “Sẽ trình Đại tá” những thắc mắc của tôi. Nhưng suốt cuộc di tản, tôi không được đến gần đại tá. Một buổi sáng thấy ông quần áo thẳng ly thẳng nếp, mũ nồi đen quân trường, tay cầm gậy chỉ huy cùng cậu con trai mũm mĩm bước xuống xe tiến về các Sinh Viên Sĩ Quan rồi mất hút.

   Trưa hôm sau, các khóa sinh được di hành về ngọai vi Phan Rang. Dọc đường chúng tôi trú chân ở nhà thờ Quảng Thuận. Đói quá và thèm cơm quá. Từng tóan từng tóan uốn ba tấc lưỡi nhờ nấu cơm ăn với rau dưa mắm muối gì cũng được rồi thanh tóan bằng tiền. Mấy O nói giọng Quảng Trị thương tình đi mua gạo dùm, thổi cơm dùm. Cơm ăn với cá khô nướng và rau luộc sao mà ngon quá. Sau này gặp lại người anh em kết nghĩa Trần Xuân Thiện nói chuyện phải DI TẢN lần thứ nhì từ Đà Lạt xuống Phan Rang, ăn bữa cơm và nghe giọng nói Quảng Trị. Chú ấy la tôi một trận nên thân:
- Bạn anh bảo anh là đồ cà chớn chống xâm lăng đúng quá! Số anh là số con vồ. Nhà em ở ngay bên hông nhà thờ giáo xứ Quảng Thuận. Vẫn cha Đỗ Bá Ái là chánh xứ. Đầu óc và mắt mũi để đâu mà quên cả lời dặn trong thư từ khi mất Quảng Trị , chưa chết đói là may đó.
- Đúng là lúc ấy tôi mụ mị thật. Nhưng may cho chú thím đỡ tốn cho cả 10 xuất  ăn. Các cháu đỡ vất vả nước non tắm rửa. Cái tên Quảng Trị và Ninh Thuận ghép lại thành Quảng Thuận cùng với giọng Triệu Phong - Mai Lĩnh gợi nhớ quá mà óc bò óc bí, ù lì không suy nghĩ.  

     Trở lại thực tại lúc ấy, sau 3 ngày khoai lang dẻo, ngủ đứng ngủ đi ngủ ngồi vật vờ. Khi cơm no là buồn ngủ. Lệnh phải lên đường giữa trưa nắng chang chang. Gần tối chúng tôi vào tới “thị xã” Phan Rang. Ông đại úy cận thị có cái miệng méo xệch vì thương tích bắt chúng tôi vào hàng nghe lệnh. Ông phán: “Tất cả quý vị được tự do. Sáng mai, đúng 9 giờ tập trung ở sân tòa tỉnh trưởng nghe lệnh mới.”

     Tất cả mau chóng tản ra trong im lặng đúng chiến thuật. Trên đường đã đi qua, những lúc nghỉ có  ăn hàm thụ. Nghe đồn cơm gà Phan Rang ngon nhất nước. Tôi nhắc khỏan mỹ vị này anh em đều đồng ý. Vào quán, mỗi người một đĩa cơm gà một chai bia BGI. Ngồi ăn uống có bàn ghế, có quạt máy sung sướng quá. Bia “ngọt lắm!” nhưng anh em đều tự giới hạn vì: phải tỉnh táo để ứng phó và đường còn xa! Chưa biết bao giờ mới về được Sài Gòn. Còn uống cà phê là một nhu cầu, cà phê vỉa hè đường phố Phan Rang rẻ hơn Đà Lạt. Ngồi đấu hót với nhau và vợ chồng chủ quán, khuya mới ra đi. Mãi vui vì yên chí vĩ tuyến 12 vẫn còn ở ngòai Phan Rang. Ông tướng Tòan đã ra định mốc phân ranh. Ông tướng Nghi và những liên thuộc có xe tăng  đại pháo đã thiết lập xong phòng tuyến, lại có cả một Sư Đòan 6 Không Quân yểm trợ tối đa. Lo gì? Bò vẫn trắng răng mà.

     Đi loanh quanh tìm chùa hay nhà thờ xin vào tá  túc. Nhưng chẳng có ai trong nhóm biết gì về  Phan Rang, ghé một vài nhà trọ, vào cả khách sạn đều bị xài lắc vì đã chật ních người. Quanh quẩn thế nào lại trở về đường có quán cà phê. Anh chị chủ quán đang quét dọn thấy chúng tôi vật vờ có vẻ ái ngại, ngoắc lại “hỏi cho ra nhẽ”. Khi hiểu nguồn cơn. Anh chị ấy mời vào ngủ trong quán nếu chịu nằm trên nền gạch bông thì dẹp bàn ghế lại, nhà không có chiếu. Chúng tôi không muốn phiền nên tạ sự nói rằng: “Có lệnh cấm, không cho phép chúng tôi ngủ ở nhà dân”. Chỉ xin mượn mấy cái chổi quét cát ở hàng hiên vài nhà đối diện nhau ở hai bên đường thôi. Nằm mỗi đứa một nơi để tự bảo vệ và bảo vệ nhau. Lỡ có “ai đó nghịch ngợm bằng lựu đạn” thì chỉ có một thằng “Tổ quốc ghi ơn” thôi.

     Ở Phan Rang ngày ấy mới 9 giờ tối đã là khuya. Sáng hôm sau mới 4 giờ quán đã mở  cửa. Chúng tôi là những người khách đầu tiên, tự  kê bàn ghế ra cửa rồi lần lượt xin nước rửa mặt. Đúng 7 giờ chúng tôi hỏi đường đến tòa tỉnh thì ông Đại úy cán bộ nhà trường ngồi xe Jeep chạy qua, ông biểu lệnh “mới-mới” là ra quốc lộ để về Phan Thiết. Dọc đường chúng tôi ăn sáng thật kỹ, đề phòng nhịn chay. Khoai lang dẻo! Sau bữa cơm ở Quảng Thuận đã là quà biếu mấy O tốt bụng nấu cơm dùm. Khoai gần như còn nguyên, chúng tôi chỉ nhấm nháp gọi là. Có lẽ suốt đời tôi “nghỉ chơi” với khoai lang dẻo Đà Lạt.

     Cứ như lệnh truyền thì khóa sinh của cả  các khóa được “ưu tiên”, có một xa đòan chở về Phan Thiết tập trung rồi cả hai trường có xe tăng đại pháo và máy bay mở đường qua Rừng Lá về Long Khánh – Biên Hòa.

     Đúng 8 giờ có hai xe GMC chạy ào tới. Chờ  hòai cũng chỉ có hai xe. Có người thắc mắc  hỏi như không hỏi: “Xa đòan gì mà chỉ có hai cái thổ tả trần trụi thế này…?” Lời châm biếm không có ai nhếch môi cười. Người nói câu ấy mất hút vào đám đông dưới tán cây bên đường. “Tóan chúng tôi” được ưu tiên mời lên xe đầu. Xe chở được một Trung đội mà chỉ có mười mấy người. Xe sau đang chờ “khách”. Đến lúc xe lăn bánh, xe sau cũng tà tà bò theo, nhìn lại không thấy tăm tích đâu. Xe chở chúng tôi vẫn chạy và có phần tăng tốc cho chóng đến Phan Thiết. Đi được chừng 5, 7 cây số, xe “bay trong cõi hồng trần” cô đơn trên đường nhựa, không có xe đồng chiều hay ngược chiều. Ở các bụi cây ven quốc lộ có vài bóng đen thập thò, một phát AK nổ. Anh tài xế Quân Vận quay vội đầu xe trở lại . Vì quay gấp quá xe bị nghiêng, một bạn Biệt Cách 81 quen với chiến trận nên bén nhạy với tình thế, hô “xung phong”, tôi tiện đang cầm Colt 45, bắn một phát về phía đối phương. Dũng ném một trái lựu đạn mini vào bụi cây bên kia đường. Tất cả nhảy gấp xuống xe. Một bạn không biết gốc ở đơn vị nào, lạng quạnh bị chính xe chở mình cán ngang hai chân. Mấy bóng áo đen chạy như vịt vào rừng. Chúng tôi khiêng bạn ấy lên xe, lấy băng cá nhân cột chặt hai bên đùi để ngăn máu chảy và buộc nẹp cố định cho hai ống chân. Xe chở chúng tôi từ thửa ruộng khô “bò” lên đường trở lại chỗ xuất phát “báo cáo tình hình”. Người bạn bị gẫy chân vào Quân Y Viện Phan Rang. Nghe đồn ông Chỉ Huy Trưởng trường tôi bị ông Tướng nào đó cạo cho sát ván vì cái hành động vô trách nhiệm của mình.

     Quá trưa hôm ấy, xa đòan có trực thăng và  xe tăng hộ tống, cũng các khóa sinh “ưu tiên đi đầu”. Ở Phan Thiết, chúng tôi được tự do đi đứng ăn ngủ. Những giờ phút ngồi quán tôi chợt nhớ có người anh em ở Tiểu Đòan 25 Truyền Tin. Cậu ấm lính kiểng này quê tại đây, con nhà sản xuất nước mắm có hạng. Anh là cộng tác thường xuyên với tờ Nguyệt San của Sư Đòan do tôi chủ biên. Tên hãng nước mắm không biết (vì anh không bao giờ khoe sự giàu sang thế lực của mình), địa chỉ không nhớ. Kiếm ra “tổ chấy” đâu phải dễ dàng. Thế rồi, áp dụng tí “nghề nghiệp” cũng kiếm tới nơi.

     Kiếm được nhà anh là nhờ vào huy hiệu “Truyền Tin” của một sĩ quan Tiểu Khu Bình Thuận, đã là 21 giờ. Thân mẫu anh thấy con bà và tôi ôm chòang lấy nhau thắm thiết. Bà cụ bắt chúng tôi đi tắm,  thay quần áo (!). Tôi đưa mắt nhìn bạn tôi có vẻ quê quê làm sao ấy. Thiếu chủ nhân hiểu ngay vấn đề. Nó nói:
- Yên chí! Nhà này khách khứa bất ưng vào khỏang 20 mạng có cơm ăn áo mặc ngay lập tức. Với lại; các chiến hữu đều có mùi khó ngửi  đấy! Vô tắm gội đi rồi ăn cơm. Nghe nói quý vị đớp khoai lang dẻo cầm hơi mấy ngày rồi. Đi bộ đường đèo rồi lại ngồi nát đít ra ở quán. Đi tắm mau rồi ra ăn cơm. 

     Cả bảy thằng “quan đàng chi địa” vào chung cái phòng tắm rộng thênh thang. Quần áo giày vớ  trút bỏ ở phòng ngòai. Lại được “vọc nước” như những ngày ở Thủ Đức nên chúng tôi sung sướng lắm! Chỉ không có vụ la hét đùa rỡn như ngày xưa thôi. Ra lại phòng ngòai, 7 bộ pijama thơm phức, phẳng phiu. Ướm thử rộng hẹp dài ngắn rồi trao đổi với nhau. Bảy con hổ đói ăn một bữa “ra gì với núi sông”. Bà cụ và anh bạn ngồi ở hai đầu bàn mời chào khuyến khích chúng tôi ăn cho nhiều đồ ăn vào. Ở sau lưng chúng tôi là hai người hầu gái liền tay xới cơm.

     Cơm nước xong, chúng tôi ngủ. Cứ hai người một phòng. Tôi chung phòng với thiếu chủ nhân. Tôi nói:
- Mình kiếm hú họa, may mà gặp cậu. Nếu không gặp cũng chẳng chết thằng Tây đen nào. Mấy ngày qua cận kề với xương máu, vất vả đói khát quá! Còn cậu, sao lại ỳ thân xác ra ở đây?
Nó trả lời thành thực:
- Mấy ông anh mình bắt phải về đón đại gia đình vào Sài Gòn rồi tính. Nhà đang chuẩn bị. Nếu phi trường cứ bị pháo kích thì mình quyết định đi đường thủy. Nhà có cả chục ghe đánh cá lớn. Các cậu có “ngon” thì cứ ở đây rồi đi cùng…

     Vào giấc ngủ không hề mộng mị cho đến khi nắng gió ùa qua cửa sổ tôi mới vươn vai ngồi dậy. Mắt nhắm mắt mở tai nghe:
- Thiếu tá lỗ! Dậy đi mày. “Nhất thốn quang âm nhất thốn kim”. Nếu ngủ mà lập được chiến công thì ngủ tiếp đi. Còn không thì  ra ăn sáng. Bà già tao và các bạn đang chờ.

     Tôi vội vàng làm vệ sinh răng miệng rồi ra bàn. Trên bàn có canh cá, thịt nướng, bánh ứơt, bún, bánh mì…và  cả cơm nữa. Ai thích thứ nào cứ nhập khẩu thứ đó. Trong khi đang ăn sáng, chị người làm lên “trình” bà cụ:
- Thưa bà, con đi chợ.
- Ờ mày mua một vài con ốc ngon ngon về quấn bánh tráng nghe Năm.
Trong số chúng tôi có anh bạn Bắc kỳ rất nhạy cảm trong các nhận định về người và  việc.

     Anh ta kéo tôi ra góc sân khuyến cáo “nên rút dù sớm”. Tôi hỏi tại sao. Nó bảo: “Cứ nghe bà cụ nói với người làm thì rõ chứ sao! Bộ ngu như bò đực hay sao mà còn phải hỏi. Tụi mình; 7 con hổ đói mà “một vài con ốc” để ăn hơi à? Ý tại ngôn ngọai, thái độ tống khứ đã rõ. Nếu còn lưu lại là bất trí”.

    Nghe nó “luận” có vẻ hữu lý, tôi vào lễ phép cám ơn bà cụ đã tiếp đãi ân cần, ban cho giấc ngủ an lành và mấy bữa ăn ngon. Nghe tôi nói, bà cụ rất ngạc nhiên. Còn bạn tôi, nó vừa hét vừa chạy xuống bếp, xách ngay hai giỏ vừa đi chợ về bầy ra trước mắt chúng tôi. Nó nói như quát vào mặt chúng tôi:
- Đây! Ngần này đồ ăn, chúng mày bỏ đi thì để cho heo cho chó ăn à? Má tao cho làm món ốc biển đặc biệt này cho tụi mày  ăn. Ừ! Đi đi! Đi mà chết đói tiếp nữa nghe chưa!  
Thấy con nặng lời với bạn có cái gì lưu luyến thân thương. Bà cụ lên tiếng:
- Kìa Út! Con nói năng gì kỳ cục vậy? Chắc các cậu đây có lý do gì, phải hỏi cho ra lẽ đã chứ.
Anh bạn người Nam kỳ rất lịch duyệt đỡ lời bà cụ:
- Thưa bác; tụi cháu đến gia đình bác rất vui; được ăn được ngủ được tiếp đãi tử tế ngòai dự tưởng. Nay thì phải trở về đơn vị không thì bị báo cáo đào ngũ… 

    Không đợi bạn tôi dứt lời. Bà cụ cười buồn rồi nói ngay:
- Quân hồi vô phèng cả rồi. Ai báo cáo ai. Mạnh ai nấy kiếm phương tiện mà đi. Ở đây còn yên được giờ phút nào cứ biết như thế đã. Sáng sớm có thằng cháu dạy bên Võ Bị đến thăm bác. Nó cũng phải chờ mở đường xong mới đi được. Với lại, quần áo các cháu còn ứơt, sao bận mà đi?

     Lúc ấy chúng tôi mới nhìn lại mình, nhìn lại nhau đều đang bận đồ ngủ, nhìn ra sân sau, quần trong áo ngòai đều phất phơ trước nắng gió. Khi ấy mới thấy rằng mình hố vì cái thằng cứ tưởng rằng thông minh hóa ra thong manh, nhìn ra hàng hiên, 7 đôi giày cũng không còn bùn đất nữa.

     Một bữa ăn ngon có rượu tây, có bia lon với món ốc biển và nhiều món xào nấu khác. Bà  cụ thấy 4 đĩa ốc đều đầy có ngọn, trắng tinh nên khen chị người làm:
Giỏi lắm Năm! Mày mua mấy con? Tao cứ sợ hôm nay còn không có cả họp chợ nữa ấy chứ.
- Con đón ghe về mua liền hai con.

     Tôi ở miền Trung, những nơi tiếp giáp với biển như Quảng Trị, Thừa Thiên, Quảng Nam, Quảng Tín, Quảng Ngãi mà chưa bao giờ được thưởng thức món  ốc biển dòn sần sật thế này lại ở Phan Thiết, một tỉnh cực Nam miền Trung. Gia đình bầu bạn anh em miền Ngũ Quảng đãi tôi hai món làm từ mực tươi. Mực ống nhồi thịt heo bằm cùng râu của nó vào đầy “bụng” rồi chiên lên, xắt ra từng khoanh chấm mắm ớt tỏi. Còn mực nang thì chỉ bóc mai bỏ mực, rửa sạch cho vào nồi, tự nó ra nước để luộc nó. Thái ra từng miếng trắng như miếng dừa, như ngó sen chấm với hợp chất gừng ớt mè giã nghuyễn cùng với nước mắm Nam Ô vừa đủ để thành một thứ nước chấm độc đáo. Cả hai món mực này; uống với bia rất bắt.

     Tại sao giữa nỗi cơ cực và sống chết lại chỉ  nghĩ đến “ăn là ăn” rồi so sánh như  vậy? Đó là khi ngót dạ, những lúc được ngừng “tạm nghỉ bước gian nan”. Chúng tôi ăn hàm thụ. Cái khỏan ăn hàm thụ còn diễn ra dài dài  năm tháng ở các trại Học Tập Cải Tạo mà các nhà văn hóa mới ở Hoa lục gọi tắt là Lao Cải.

     Một đêm trăng sáng như sữa ngòai quan lộ  tôi thấy xe cộ đủ các lọai nối đuôi nhau chờ  mở đường. Gia đình Túy cũng đang trong số phận  đó. Nhìn thấy tôi, Túy P mừng mừng tủi tủi. Mặc cho tất cả nhân gian to hó mắt nhìn, chúng tôi ôm cứng lấy nhau, những nụ hôn tới tấp qua lại rất linh thiêng, rất tinh khiết như thần thánh có đất trời làm chứng  để đối với những trận địa pháo gây tang tóc máu xương cho cả dân lành. Tiếng súng vẫn ầm ì ở phía sau lưng, phía Bắc Phan Rang “ngang nơi vị tuyến 12” đang là phòng tuyến. Từng đòan xe Hồng Thập Tự hụ còi xin đường chạy qua. Túy P thỏ thẻ bên tai tôi: “Ba em đã cho người đi liên lạc với các chú bác có tàu đánh cá ngòai Mũi Né. Còn anh Đạt quen với Hải Quân ngòai Kê Gà. Thế nào cũng thoát được về Nam. Anh ở lại cùng đi”. Ông già đứng bên cạnh lúc nào chúng tôi không hay, khi nghe con gái nói ông gật đầu như xác định một sự thực, một sự cho phép. Anh Đạt vẫn gục đầu vào tay lái cứ như đang ngủ gục. Anh nhấn còi xe nhè nhẹ như khuyến khích. Hai thằng cu con của chị Túy Đ đuổi nhau chạy loanh quanh hai cái xe nhà cười vui như được dự Picnic quanh lửa hồng.

     Bản chất nhà quê của tôi là không thích phiền, không thích hàm ơn và không nỡ bỏ bạn bè nên lại theo đòan quân cất bước hướng về phía Long Khánh. Trong khi đó, gia đình Túy kẹt ngòai quốc lộ chắc còn lâu mới được “nhập thành Phan Thiết”. Còn không thì bỏ xe, đi bộ hoặc là đợi thân nhân có cơ nghiệp làm ăn ở đây ra đón. Người từ cao nguyên xuống, từ Phan Rang về, quân cùng dân chen vai thích cánh. Vài lộn xộn nhỏ xảy ra trong đêm làm anh em chúng tôi lạc nhau kể cả khi đến được chỗ gọi là Bộ Chỉ Huy nhà trường. Quay đi quay lại chỉ còn Vũ Triệu Khải và tôi. Lúc bấy giờ hai đứa mới thấm thía câu “quân hồi vô phèng” thân mẫu bạn tôi nói lúc sáng hôm qua. Thân phận khóa sinh chúng tôi chưa đến nỗi như thế. Cái”phèng” cuối cùng trên đường di tản này là lệnh: “Cho tất cả khóa sinh tự do di tản. Về Sài Gòn thì trình diện ở Tổng Cục ngay. Còn không có phương tiện  thì cố chờ khai thông đọan đường Rừng Lá”. Lại có một gợi ý: “Ai có tiền, còn tiền, Trường sẽ đưa ra Phan Rí cửa đi tàu biển về Vũng Tàu. Giá cả tương thuận chừng vài chục ngàn thôi”.

     Nghe được cái lệnh ngòai lệnh này Khải nói: “Tao còn gần 100.000 đ. Mày còn bao nhiêu? Góp lại hai thằng mình về tới Vũng Tàu là không thiếu phương tiện nữa.” Tôi đồng ý liền. Hai đứa tôi cũng lại là người đầu tiên lên GMC và lên ghe máy trước tiên. Chiếc ghe dài chừng 10 mét đã chở đồ gì nặng lắm rồi. Ông Thiếu úy nhân viên của trường yêu cầu chúng tôi góp tiền rồi ông đưa cho chủ tàu (thực ra là ghe) xong, quay ra bắt tay từng người sẽ cưỡi sóng về Nam. Ông chúc chúng tôi bình an và hẹn tái ngộ ở Sài Gòn.

     Cũng may chuyến hải hành của chúng tôi hôm đó trời yên biển lặng nhưng ghe nhỏ phải chạy gần bờ. Dọc thủy lộ có những tràng AK và cả B40 từ bờ bắn ra nhưng ghe vẫn ở ngòai tầm đạn. Ghe chạy nửa ngày một đêm, sáng hôm sau cập bến Vũng Tàu. Chúng tôi được Quân Cảnh “dàn chào” theo thủ tục là giao nộp vũ khí, xuất trình giấy tờ cá nhân. Trước và sau chúng tôi đã có nhiều tóan đi về bằng đường thủy – Đã có một sĩ quan đại diện Tổng Cục  ngồi chờ lập danh sách để đón về. Ngay chiều hôm ấy xa đòan của Tiểu Đòan 30 CTCT đón chúng tôi về Biên Hòa. Ở đây không đủ phương tiện đáp ứng cho sinh hoạt ăn uống dù một vài ngày nên Đại Diện Tổng Cục đón chúng tôi về Sài Gòn cũng bằng GMC. Đến Sài Gòn chúng tôi được tự do 3 ngày rồi vào trình diện Trường, bây giờ tạm thời ở nhờ Doanh trại của Biệt Đòan Văn Nghệ Trung Ương phía đầu đường Phan Đình Phùng - Nguyễn Bỉnh Khiêm.
Ngày tôi vào trình diện cũng là ngày Đại tá  Chỉ Huy Trưởng Trường Đại Học Chiến Tranh Chính Trị  gặp các cơ quan truyền thông quốc nội quốc ngọai. Vài phóng viên quen thân vây quanh tôi muốn biết Đà Lạt cùng những giờ phút hấp hối như Lãnh sự quán Mỹ cuốn cờ? Đại tá Tỉnh Trưởng bốc hơi trước? Dọc đường di tản quân dân Đà Lạt có những trở ngại gì?
Có người phía sau ôm lấy tôi trong “vòng tay thân ái” đẩy ngược ra cổng. Nhìn lại thì ra ông Huấn Vụ Trưởng. Ông ta cười rất tươi và nói: “Thế là chúng ta còn ngyên con cả. Đi uống cà phê thôi! Cúng ta khỏi phải vào hội trường. Ở ngòai này cho thóang. Tuần sau sẽ cấp phát bằng cho các bạn đấy”

     Tôi thưa với Trung tá: “Bằng cấp là để vinh danh con người. Quý vị coi rẻ sinh mạng quý  vị thì mặc quý vị, còn sinh mạng của cả  ba khóa chúng tôi, chúng tôi quý lắm!…”
Nghe từ Hội Trường vang vang tiếng tuyên bố hùng hồn của đại tá: “Trung Tướng Chỉ Huy Trưởng Trường Võ Bị Quốc Gia và tôi, Trường Đại Học Chiến Tranh Chính Trị quyết tử thủ Đà Lạt. Nhưng buộc phải DI TẢN CHIẾN THUẬT theo lệnh. Chúng tôi tự hào là tất cả Sĩ Quan, Hạ Sĩ Quan, Binh Sĩ cùng Sinh Viên Sĩ Quan hai trường và các Khóa Sinh là những quân nhân đã bảo vệ đồng bào suốt cuộc di hành”. Đại tá còn nói nhiều, rất nhiều về những kỳ công kỳ tích; nào là bảo vệ thị xã bình yên, bảo vệ phi trường Liên Khương…

     Cuộc “gặp gỡ” ấy được báo chí, phát thanh, truyền hình đưa tin rất trang trọng. Tiếc rằng không còn Nước để ông Đại tá lên Tướng.

     Sau này gặp Phạm Quang Mạnh đạp xe đi hành ghề “mua cái gì cũng bán,bán cái gì cũng mua” cho tôi hay ông Đại tá còn đang học tập. Lần khác, Mạnh bảo ông đã về và vẫn còn khỏe. Chỉ buồn thôi. Nó rủ tôi đến thăm ông cho vui. Tôi trả lời Mạnh rằng: “Cũng đang buồn. Bao giờ có hứng tôi sẽ lại thăm ông nói chuyện ruồi bu ngày cũ cho vui. Nhất là chuyện cô con gái Đại tá là một mỹ nhân. Anh bạn nhà thơ của tôi gặp cô nàng ở Nha Trang rồi mê mẩn cả mấy tháng năm dài”.

     Lịch sử đã sang trang và sẽ lại sang trang! Dĩ nhiên không rập khuôn ở hình thái cũ  mà “nó” hằng chuyển với một chu trình: “Cửu cửu càn khôn dĩ định”… Những vai diễn trên Sân Khấu Đời thủ ác hay thiện đều hằn lên trong tâm tư tình cảm thiên hạ.

     Lời tạm kết viết thêm.

     Ba mươi năm! Một kiếp người! Cái thân tôi “Bóng nhỏ đường dài” với hai lần di tản. Lần thứ  nhất từ Quảng Trị về Huế. Lần thứ  nhì từ Đà Lạt về Sài Gòn. Chuyện 30 năm trước bây giờ nhớ nhớ quên quên. Những sự kiện quẩn quanh Trước và sau Đêm 30.3.1975! Tiếc rằng tôi không phải là nhà văn nhà báo có tài để tái hiện thực trạng trên giấy mực. Có cuốn nhật ký vừa của chung và của riêng cùng danh sách anh em trong khóa phải có theo trách vụ cũng “thất lạc vì chiến tranh”. Chỉ mỗi giờ G cái đêm hôm ấy là “đậm đà khó quên”.

     Mỗi lần có dịp lên Đà Lạt, xe chạy vào Thị  Xã phải chạy qua đường Nguyễn Tri Phương nay là  đường 3 tháng 4. Đó là ngày được mệnh danh là Ngày Giải Phóng Đà Lạt. Con đường dốc Duy Tân nay là đường 3 tháng 2. Con đường còn hằn nên nỗi nhớ: Tiệm sách mang tên DUY TÂN. Nghe người Đà Lạt nói: “Ông chủ tiệm thật khó chơi với cả người mới, người cũ”.
Thôi thì, nhân sinh hữu hạn, tôi xin mạn phép mượn lời trong Mai Đình Mộng Ký để tạm kết cái chuyện: Trước và Sau Đêm Giã Từ Đà Lạt:
“Trăm năm là kiếp ở đời
Vòng trần này dễ mấy người trăm năm
Cuộc phù  sinh có bao lăm
Nỡ  qua ngày bạc mà lầm tuổi xanh
Duyên tế  ngộ, hội công danh
Là  hai với nghĩa chung tình là  ba
Đều là  đường cái người ta
Là  cầu noi đó ai qua mới từng
Tình duyên hai chữ nhắc bằng
Há  rằng duyên chướng há rằng tình si
Chuyện xưa còn có xá chi
Đêm thanh vui chén muốn ghi nỗi mình”

HOÀNG VŨ ĐÔNG SƠN
_________________________________

Sài Gòn 30.3.2005

Bạn đang theo dõi trang: Văn Truyện Trước Và Sau Đêm Giã Từ Đà Lạt _ (Hoàng Vũ Đông Sơn) (Truyện)