Lạm Bàn Phát Triển Tỉnh Lâm Đồng Thị Xã Đà Lạt _ (GS. Tôn Thất Trình) (Tạp Ghi)

  • PDF

dalat_2.jpg - 18.49 Kb

LẠM BÀN PHÁT TRIỂN
TỈNH LÂM ĐỒNG THỊ XÃ ĐÀ LẠT                                                 

Đẹp nhất hồ xanh hay thác trắng?                                                        
Vừa hái hoa rừng vừa cãi nhau.

(Thơ Ca Lê Hiến – 1989 – 1995, hai hồ lớn Đà Lạt là hồ Xuân Hương, hồ Đa Thiện, các hồ khác là  Than Thở, Vạn Kiếp, Mê Linh… Cách  thành phố không xa là   các thác Liên Khương, Prenn, Đatanla, Cam Ly …  xa hơn tí nữa là các thác Pông gua , Gu Ga…  Rừng gợi cảm là rừng Ái Ân, đập Suối Vàng, thung lũng Tình Yêu,đồi thông Hai Mộ …)

Mươi nếp nhà tranh, mươi tá lưu dân…

Là quang cảnh Đà Lạt khỏang  thập niên đầu thế kỷ thứ 20, nhưng năm 1939  Đà Lạt  đã có 427 biệt thự và hơn chục vạn dân (theo Bùi Văn Trọng Cường ), vượt Tam Đảo, nơi :

Mây sà xuống ôm rừng thông xanh biết,
Suối nghiêng mình nghe khúc nhạc thông reo

(Thơ cũ theo nhà sử học Nguyễn Vĩnh Phúc )

Vị trí

     Lâm Đồng là một trong 5 tỉnh Tây Nguyên ( Cao Nguyên Trung Phần )- Central Highlands ; 4 tỉnh Tây Nguyên khác là Kontum, Gia Lai, Đắc Lắc, Đắc Nông. Lâm Đồng có đặc điểm là không có biên giới chung với  các quốc gia Lào, Căm Bốt ) . Nằm về phía Nam Tây Nguyên, tọa độ là vĩ tuyến Bắc 11012 – 12015’ và kinh tuyến  Đông 107015’ – 108045’. Đông giáp hai tỉnh Khánh Hòa và Ninh Thuận, Tây  Nam giáp tỉnh Đồng Nai, Nam giáp tỉnh Bình Thuận, Tây giáp tỉnh  Bình Phước  và Bắc giáp hai tỉnh  Đắc Lắc và Đắc Nông. Diện tích nay là 9 764.8 km2 ( 3770.2 dặm Anh vuông ),nhỏ hơn chút ít con số tiến sĩ  Thái Công Tụng ghi ở tài liệu Vietnamologica số 6 – 2005 là  9 953 km2, tỉnh hẹp nhất Tây Nguyên, trước khi  tỉnh Đắc Lắc cũ chia ra làm hai năm 2003 là tỉnh Đắc Lắc mới (  13062 km2) và  tỉnh Đắc Nông (  6514 km2 ), nguyên là tỉnh Quảng Đức ( thị xã là Gia Nghĩa) thời Cộng Hòa.  Sau năm 1975, Lâm Đồng cũng  là hai tỉnh Tuyên Đức ( thị xã là Đà Lạt)  và tỉnh Lâm Đồng cũ ( thị xã là Bảo Lộc – Blao) nhập lại.

     Về hành chánh, Lâm Đồng  gồm hai thị xã  Đà Lạt và Bảo Lộc và 10 huyện : Bảo Lâm ( Lộc Thăng), Cát Tiên ( Đồng Nai ), Đa Hòai( Madagui ), Đa Tẻ ( teh ), Đam Rồng, Di Linh, Đơn Dương ( Thành Mỹ ), Đức Trọng( Liên Nghĩa ), Lạc Dương, Lâm Hà ( Nam Ban, Định Vân ). Dân số năm 1996 là 722 322 người, năm 2007 là 1 189 327 người. Tăng gia mỗi năm  trung bình  40 – 50 000.  Như vậy, năm 2014 có thể đã gần 1500 000 người. Lâm Đồng có đến 40 tộc dân sinh sống, nhưng đông nhất theo thứ tự là tộc dân Kinh -Việt , các tộc dân thiểu số Cơ Ho , Mạ ,  Nùng, M’Nông…. Nhắc lại các tộc dân Cơ Ho,  Mạ, M’ Nông thuộc nhóm ngôn ngữ Môn – Khmer và tộc dân Nùng  thuộc nhóm ngôn ngữ Tày – Thái,sinh sống nhiều nhất  rải rác  12 tỉnh miền Bắc Việt Nam, nhưng sau 1954 – 55 đã  tập trung nhiều ở khu vực Tùng Nghĩa Lâm Đồng chuyên khai thác thơm – dứa…

Suôi dòng lịch sử Lâm Đồng

     Từ vài thôn ấp sông Dã Dương đầy cá sấu, thuộc Bình Thuận  qua năm 1899 tên là Đồng Nai Thượng ( Haut Donnai )- Cao nguyên Liang Bian, hủy bỏ năm 1905 ,tái lập năm 1920,   sáp nhập năm 1950  Lâm Viên và Đồng Nai Thượng  thành Lâm Đồng  và xác nhận tên này năm  năm 1958,  dân số tỉnh  là 49 599 người chỉ bằng 1/30 dân số ngày nay , trên diện tích là 10 650 km2 ,  lớn hơn đôi chút diện tích ngày nay . Theo Đại Nam Nhất Thống Chí, sách thời nhà Nguyễn Phước, thì  trước  năm 1899,  đa số lảnh thổ  tỉnh Lâm Đồng ngày nay thuộc tỉnh Bình Thuận và một phần Ninh Thuận.  “ Di Linh thơ phú”  ghi là lúc đó có 20  thôn ấp , ghi tên một một con sông là Dã Dương  về phía Tây, không sâu , nhưng đầy cá sấu :  Tây hửu Dã dương giang, bất thâm nhi quảng, trung đa ngạc ngư.  Sách cũng ghi rỏ họat động hai bên bờ sông . Phía Nam  do các thương gia Tàu cư ngụ .  Phía Bắc rất ít cư dân.  Năm thứ 19 đời vua Tự Đức , triều đình Huế gửi  nhân viên thám hiểm vùng này, nhưng người Thượng lo sợ, không chịu hướng dẫn nên cuộc thám hiểm thất bại.

     Ngày một một tháng 11 năm 1899,  tòan quyền Paul Doumer  ký quyết định  thành lập tỉnh Đồng Nai Thượng và hai cơ sở hành chánh là Tánh Linh  và Cao nguyên Lang Bian.  Tỉnh Đồng Nai Thượng  gồm  thượng dòng sông Đồng Nai  giáp Nam Kỳ – Cochinchine và Căm Bốt, thị xã là Di Linh- Djiring. Năm thứ 17  đời  vua Thành Thái  năm 1905, bải bỏ tỉnh Đồng Nai Thượng và đặt lảnh thổ này trực thuộc lại tỉnh Bình Thuận.  Ngày 16 tháng giêng năm 1916 , Tòan quyền  E. Roume ký quyết định  thành lập tỉnh Lang Bian  gồm toàn thể vùng núi non của các tỉnh Ninh Thuận, Bình Thuận, Đồng Nai,  Bình Phước ngày nay.  Ranh giới tỉnh Lang Bian  là sông Krong Knô  về phía Bắc,  sông Krong Pha ( nay thuộc tỉnh Ninh Thuận ) về phía Đông Nam, sông Cà Giai một chi lưu sông  Lũy – Phan Rí ( thuộc tỉnh Bình Thuận ) về phía Nam , phía Tây là biên giới  với Căm Bốt. Sắc lệnh  thành lập Đà Lạt là trung tâm đô thị ở Lang Bian đước ký vào ngày 20 tháng tư  năm 1916 đời vua Duy Tân, và được Khâm Sứ  Trung Kỳ là J. E. Charles  ký xác nhận  ngày 30 tháng 5 năm 1916. Ngày 8 tháng giêng năm 1941,  tòan quyền Decoux  ký quyết định thiết lập vùng Lang Bian , tự phong cho mình làm thị trưởng Đà Lạt và thống  đốc tỉnh Lang Bian.

     Tháng 8 năm 1945  , Ủy Ban Nhân Dân Cách Mạng Lâm Thời và Mặt Trận Việt Minh thiết lập  tỉnh Lâm Viên và Đồng Nai Thượng. Ngày 14 tháng 12 năm  1950,  chủ tịch Ủy Ban  Kháng chiến Trung Bộ  Nguyễn duy Trinh   ký nghị định sáp nhập  tỉnh Lâm Viên và  Đồng Nai Thượng vào tỉnh Lâm Đồng.  Phó thủ tướng Việt Nam Dân chủ Cộng Hòa  Phạm Văn Đồng ký xác nhận  nhập Đồng Nai Thượng và Lâm V iên  vào tỉnh Lâm Đồng  ngày 22 tháng 2 năm 1951.  Ngày 10 tháng 11 năm 1950,  quốc trưởng( vua ) Bảo Đại cũng đã ký sắc lệnh qui định ranh giới thị trấn Đà Lạt  và tỉnh Đồng Nai Thượng. Theo  Địa Phương chí,  thị trấn Đà Lạt  là trung tâm của Hòang Triều CươngThổ-  Crown Domain, diện tích 67 km2 và dân số là 25 041 người . 

     Tỉnh Đồng Nai Thượng như vậy được thiết lập năm 1899, hủy bỏ năm1905, tái lập năm 1920. Năm 1956 , diện tích Đồng Nai Thượng  là 10 650 km2 và dân số là 46 599 người. Djiring là thị xã.  Lúc đó tỉnh gồm  3 huyện:   Djiring có 188 làng, Blao có 159 làng và  Dran – Fyan có 274 làng. Ngày 19 tháng 5 năm 1958, tổng thống Ngô Đình Diệm ra nghị định đổi tên tỉnh Đồng Nai Thượng thành tỉnh Lâm Đồng. Ngày  30 tháng 11, chuyễn thị xã từ Djiring  xuống Blao. Ngày 19 tháng 2, Blao đổi tên thành Bảo Lộc, và Djiring thành Di Linh .  Xã B’Sar tỉnh Bình Tuy sáp nhập vào huyện ( quận  )  Bảo Lộc  ngày 12 tháng 7  năm 1965.  Ranh giới  năm 1965 của tỉnh Lâm Đồng là tỉnh Quảng Đức về phía Bắc,  hai tỉnh Tuyên Đức và Bình Thuận về phía Đông,  hai tỉnh Bình Thuận và Bình Tuy về phÍa Nam , hai tỉnh Phước Long và Long Khánh về phía Tây.  Năm 1972, diện tích tỉnh Lâm Đồng là 5 500km2, dân số là 90 157 người, thị xã là Bảo Lộc. Ngày  19 tháng 5 năm 1958 , tổng thống Ngô Đình Diệm  thiết lập tỉnh Tuyên Đức. Ngày  30 tháng 5 năm 1958, quận ( huyện ) Dran tách rời khỏi Lâm Đồng và nhập vào Tuyên Đức . Bắc Tuyên Đức  đi ngang phía Nam  núi Chu Yang Sin, Đông gần núi Bi Đúp ,  Tây Nam là đỉnh đèo Ngọan Mục, Tây là các sông Đa Nhim, Dak Nông và Đá Trong. Năm 1958  diện tích tỉnh Tuyên Đức  là 5067 km2 , dân số là 49 025 người và thị xã là Đà Lạt,và có 3 quận là Đơn Dương, Đức Trọng  và Lạc Dương.

     Theo quyết định ngày 20 tháng 9 năm 1975  của Bộ Chánh Trị – Politburo: Hà Nội, Sài Gòn, Hải Phòng và Đà Lạt  là 4 thành phố  trung ương quản trị và 4 tỉnh Lâm Đồng, Tuyên Đức, Bình Thuận và Ninh Thuận hợp thành một tỉnh mới, tên là Thuận Lâm, thị xã là Phan Rang. Tháng 2 năm 1976 ,  Chánh Phủ Lâm Thời Cách Mạng Cộng Hòa Miền Nam  ra quyết định  nhập các tỉnh này  vào Miền Nam Việt Nam  và lập ra tỉnh Lâm Đồng, gồm  tỉnh Lâm Đồng, tỉnh Tuyên Đức và thành phố Đà Lạt. Ngày 14 tháng 3 năm 1979, lại chia Bảo Lộc ra làm  2 huyện là  là Bảo Lộc và Đa Huoai;  Đơn Dưong  thành 2 huyện  Đơn Dương và Lạc Dương . Sau khi chia huyện ,tỉnh Lâm Đồng  gồm có 6 huyện, 1 thành phố  là Đà Lạt, 61 xã, 5 thị trấn và TP Đà Lạt gồm 6 phường .  Ngày 19 tháng 9 năm 1981, Quốc hội Việt Nam khóa 7 ra quyết định nhập xã Đồng Nai ( 18 000 ha )  huyện Phước Long tỉnh Sông Bé  vào huyện Đa Huoai tỉnh Lâm Đồng. Ngày  22 tháng 11 năm 1995  nhập  34 000 ha phía Bắc sông Krong Knô  vào tỉnh Đắc Lắc. Tháng 4 năm  2010  thị trấn Bảo Lộc được  công nhận là đô thị hạng III nước nhà.   Nay tỉnh Lâm Đồng  gồm hai thị xã là Đà Lạt , Bảo Lộc , 10 huyện  và 149 xã như đã nói trên .

     Lịch sử và danh lam thắng cảnh Đà Lạt , xứ ngàn thông, ngàn hoa ( lay dơn,  hoa hồng, cẩm tú cầu … ),  nước hồ im- thác reo …

     Từ  dòng suối nhỏ Đà tiếng Cơ Ho và  Lạt tên một bộ tộc sống dưới chân núi Lang Bian.  Năm  1893,  Paul Doumer năm 1893  chấp nhận đề nghị của Yersin  thiết lập trên  Cao Nguyên Lâm Viên  một thành phố nghĩ mát cho kiều dân Pháp.  Trước năm 1893 , khi còn thuộc “  Lâm Sơn Phần” của bản đồ tỉnh Ninh Thuận, Đà Lạt  chỉ có  tổng cọng là  17 làng  và 268 người.  Năm 1900 ( ? )  Paul Doumer thành lập tỉnh Đồng Nai Thượng và hành chánh Lâm Viên,cử Champoudry làm “ thị trưởng” đầu tiên của Đà Lạt. Năm 1901, đường xe lữa  Tháp Chàm – Đà Lạt  được  hoạch định.  Tuy ngân sách rất ít ỏi, Champoudry   cũng dời được xây  cất trạm khí tượng  Dankia , lập  một khách sạn Đà Lạt đầu tiên  là Khách Sạn Hàng Không ngày nay, tiền   thân của Khách sạn  Hotel du Lac và ,năm 1909,  hòan tất khúc đoạn Tháp Chàm  – Xóm Gòn  chỉ trong 6 tháng . Ở nhiệm kỳ hai, tòan quyền Paul Doumer trước năm 1914 , phát triễn mạnh mẽ  y tế , giáo dục và xây dựng Đà Lạt. Năm 1913, chánh quyền thuộc địa  làm xong  đọan đường  Phan Thiết –  Djiring ( nay là quốc  lộ 28 )  và năm 2014   đọan đường Driring – Đà Lạt ( nay là quốc lộ 20 ),  đường xe lữa  Phan Rang – Krong Pha được sử dụng  giúp  doanh nghiệp và du lịch  phát triễn nhiều  giữa vùng Đà Lạt và các châu thổ duyên hải.  Năm 2015,  có 2 cách  đi từ Sài Gòn đến Đà Lạt:  Sài gòn – Ma Lâm – Đà Lạt dài  354 km và  Sài Gòn – Phan Rang – Đà lạt dài  414 km .  Khi Thế Chiến Thứ Nhất  khởi đầu , kiều dân Pháp và các dân da trắng khác đổ xô lên nghĩ mát ở Đà Lạt , vì không về được cố hương và khí hậu Đà Lạt  tương tự Âu Châu. Nhờ đầu tư khai thác Đông Pháp,  từ năm 1916 đến  thời kỳ kinh tế khủng hỏang thập niên 1930, rất nhiều ngọai kiều đến Đông Pháp:  năm 1937 có đến  trên 30 000 kiều dân Pháp và năm  1943 có  đến  466 000 ngọai kiều Tàu.  Đà Lạt lúc đó rất được ưa chuộng.  Triều đình Huế  không có uy quyền gì về ngọai giao và quân sự: từ chế độ bảo hộ , Trung Kỳ  tiến tới chế độ  bị trực trị . Nhân viên Huế bổ nhiệm  ở  Đà Lạt chỉ là hình thức. Khởi đầu, công chức Pháp làm phụ tá cho họ , nhưng dần dần  các nhân viên Việt trở thành phụ tá cho nhân  viên Pháp. Năm  1916 ,  vua Duy Tân ký sắc lệnh  thiết lập thị trấn Đà Lạt . Nhưng tinh thần sắc lệnh  là chuyễn mọi quyền  cai trị Đà Lạt cho tòan quyền Đông Pháp . Dân số Đà Lạt năm 1923 là 1500 người, năm  1925 tăng lên  đến 2400 ngườ .  Hạ tầng cơ sở Đà Lạt được phát triễn như Palace Hôtel các năm  1916- 1922,  hồ trên sông Cam ly  năm 1919 do kỷ sư Labbé xây cất , các trạm phân phối điện năm  1918,  bưu điện, trường học năm 1920 và các bungalow  gỗ.   Rất nhiều khu phố  được thiết lập  ở phía Nam, Đông Nam và phía Tây Hồ Lớn. Dân Kinh – Việt tập trung ở làng Đa Lạc  phía Bắc và Tây Bắc dòng suối Cam Ly.  Ngày 16 tháng 8 năm 1921, tòan quyền   René Robin  thiết lập khu bảo tồn  Trạm Bờ (? ) rộng 8000 ha.  Năm 1921,  xây cất bệnh viện Đà Lạt , thay cho  nhà hộ sinh lợp tranh.  Cũng năm 1921, kỷ sư  Ernest Hébrand  vẽ ra một  kế họach cho Đà Lạt, làm xong năm 1923   lập một dãy hồ  từ thác Cam Ly  đến hồ Than Thở trên dòng Cam Ly, với ý đồ  biến Đà Lạt thành thủ đô Đông Pháp. Nhưng dự án bị chỉ trích nặng nề,  vì tốn kém,  không mấy lưu tâm đến cảnh quan thiên nhiên,  từ các đồi  đến núi Lâm Viên  đẹp  đẽ…  Năm  1933, kiến trúc sư Pineau  phát họa  một cái nhìn thực tiển hơn, theo đó một đã hồ từ Tây sang Đông  Nam  bao quanh  thị trấn Đà Lạt, mọi nét chánh được gìn giữ   năm 1943. Năm  1927, một trạm điện  mới được xây dựng. Năm 1930, làm xong các trại lính Courbet. Năm 1932,  thực hiện  đường  nối kết trực tiếp Đà Lạt -Sài Gòn qua đèo Blao . Năm 1935,  trường trung học Yersin  mở cửa . Năm  1936,  thành lập Viện Pasteur . Năm 1937, hòan tất  đường số 21, nối Đồng Nai Thượng với tỉnh Đắc Lắc và bắt đầu xây cất phủ tòan quyền. Năm 1938 làm xong trạm xăng Đà Lạt. Năm 1939, trường Thiếu Sinh Quân hòan  tất trong khuôn viên Viện Đại Học Đà Lạt ngày nay.  Nhiều biệt thự dựng lên ở đường  Hoa Lay yơn ( rue des Glaieuls), đường Hoa Hồng ( rue des Roses ) và Khách sạn Saint  Benoit. Năm  1936, Đà Lạt chỉ có 327 biệt thự; năm  1935 có 398 biệt thự và năm 1939 có 427 biệt thự

     Dân số Đà Lạt năm 1939 tăng lên đến  11 500 người.  Khu nông nghiệp Dan Kia không cung cấp đủ thực phẩm, nên Đà Lạt  làm  các ấp rau cải Hà Đông (do Hòang Trọng Phu mộ dân giỏi trồng rau cải từ Hà Đông- Nghệ Tĩnh ) cũng như  khu định cư dân Kinh- Việt  ở Tân Lạc,Trại Mát, Trại Hàm, Nam  Thiện , các vườn trà và cây ký ninh  ở  Xuân Trường, Xuân Thọ… kiều dân Pháp phần lớn là chức quyền dân sự hay quân sự, một ít là giáo chức và sinh viên, tập trung sống ở phía Nam suối  Cam Ly . Còn đa số dân Việt  sinh sống phía Bắc suối Cam Ly . Năm 1940  Tòan quyền Decoux   trở lại ý kiến  muốn  Đà Lạt thành thủ phủ ( thủ đô ) Đông Pháp. Năm đó,  kiến trúc sư Mondet  được chỉ thị nới rộng  theo hướng Bắc Nam  và chia Đà Lạt ra làm nhiều khu vực – nhóm chức năng,  những vùng dành cho biệt thự và gia cư, cũng như  vài trung tâm công cọng  quanh hồ Đa Lạt như:  Trung tâm Hành chánh Trung ương  của Phủ Tòan Quyền,  trung tâm thương mãi, trung tâm tiêu khiển và thể thao  (sân gôn, sân luyện tập quân đội,  sân đua ngựa,  câu lạc bộ,  biệt thự đền thủy tạ, nhà giữ trẽ, ca sinô … ).  Tháng  tư năm 19 43, tòan quyền Decoux  chấp thuận dự án nới rộng của kiến trúc sư Lagisquet . Chia Đà Lạt ra làm  21 khu vực, chức năng  mỗi khu vực được xác định :    7 khu vực xếp hạng 5  là để làm biêt thự, nhà  sang trọng lân cận, khối cư xá, 2 khu vực dành cho buôn bán, 1 khu vực  chỉ để làm phòng sở, khách sạn,  trường  học, vườn tượt , bệnh viện và 4 khu vực không cho phép xây cất  chỉ để làm du lịch và không gian xanh.  Sau 30 năm xây dựng, năm 1945 , Đà Lạt thật sự đã thành một thị trấn đẹp  Viễn Đông và sinh họat “Thủ đô Mùa hè” Đông Pháp này  rất sống động. Phát triễn  cũng mau lẹ :  hơn 500 biệt thự trong 5 năm, bằng số lượng tòan thể 30 năm trước  : 500 biệt thự năm 1940,  810 biệt thự năm  1943,  và 1000 biệt thự năm 1945 .

     Năm 1945, theo lời kêu gọi của Ủy Ban Kháng chiến Lâm Viên, đa số công dân Việt tản cư khỏi Đà Lạt ra sống ở ngoại ô.  Năm 1946, dân số Đà Lạt chỉ còn 5200 người . Nhưng sau đó đã trở lại.  Năm 1947 là 18 513 người và năm 1952  là 25 041 người. Nhưng sau khi bỏ chế độ HòangTriều Cương Thổ  năm 1955 cũng như  bải bỏ chánh sách  “Tây Nguyên tự trị”( thật sự là chia để trị ) do đô đốc Thierry D’ Argenlieu đề xướng năm 1947, năm 1956  dân số Đà Lạt  lên đến 58 958 người, trong đó dân Kinh -Việt lên  đến  58 445 người nhờ nhiều dân miền Bắc di cư lên từ năm 1954 ; Pháp kiều chỉ còn  206 người ở một thành phố  Decoux và D’ Argenlieu  muốn dành riêng  cho quân nhân và công chức Pháp.  Thị trấn Đà Lạt vẫn còn 10 phường, nhưng nay thêm 5  thôn mới :  phường I  thêm 2 thôn là Gà Giang và Chi Lăng, phường II  thêm  thôn Kim Stone, phường  IV  thêm thôn Thái Version, phường V thêm thôn  Tùng Lâm.  Từ năm 1957 , ĐàLạt đã cố tâm  khuếch trương  giáo dục, khoa học nước nhà:  thành lập Viện Đại học năm 1957, Trường Sĩ quan Đà Lạt, Trung tâm Sơn Cước,  Chủng viện Gíáo Hòang , Cuộc Nguyên tử Lực, Trung tâm Thống kê   Quốc gia,   Ngành lưu trữ Thư viện Đà Lạt năm 1958, Hội  Việt – Mỹ năm 1963,  Trường Chiến Tranh Chính Trị  năm 1966, Trường Chỉ Huy và Tham mưu Quân đội  năm 1967. Ngòai các trường tiểu học,  Đà Lạt có  24 trường trung học nổi danh như Lycée Yersin, Couvent des Oiseaux ,  Adran … đặc biệt là có ký túc xá  hút dẫn học sinh khắp nước đến học . Trong thời gian này, Đà Lạt cũng  sửa sang lại Chợ Đà Lạt , đường xá quanh  hồ Xuân Hương, nới rộng hay sáp nhập vào Đà Lạt  vùng trung tâm,  sau khi  thiết lập phi trường Liên Khương  năm 1961,  làm một lọat khách sạn  như Mộng Đẹp, Ngọc Lan làm đẹp các điểm nóng du lịch như  hồ Than Thở, thác Prenn, Thung lũng Tình Yêu …. hồ  Dan Kia, hồ Đa Thiện 1, 2, 3 , Duy Tân, Anh Đào …. và một lọat  biệt thự các tướng tá và chức quyền Sài Gòn  tập trung ở  khu vực  Nguyễn Du , Quang Trung, Nguyễn Đình Chiểu, Lữ Gia, đường Trần Bình Trọng.

     Tháng 2 năm 1976,  Ủy Ban Cách Mạng Lâm Thời  Cộng hòa Miền Nam  ra nghị định nhập thị trấn Đà Lạt , tỉnh Lâm Đồng và tỉnh Tuyên Đức thành tỉnh Lâm Đồng. Năm 1979, chủ trương thị trấn Đà Lạt là  ổn định đời sống nông thôn , nới rộng ranh giới rà vùng Thái Phiên, Xuân Trường,  Xuân Thọ ( ? ), nhắm ổn định  các vùng dân tộc thiểu số , nhất là nhập  tộc dân Thái – Nùng vào Đà Lạt .  Nông  nghiệp các vùng được cải tiến, đường xá đựợc sửa sang, mạng lưới điện đưa về khắp nông thôn.  Các hồ sau này được nạo vét hay tái dựng:  Đập Đa Thiện năm 1977,  hồ Chiến Thắng  năm 1981,  Hồ Xuân Hương(  1983- 84 ) ,  Hồ Tuyền Lâm ( 1984) .     Nhiều cảnh quan được tu bổ  như thác Datanla,  hồ Tuyền Lâm, thác Cam Ly, Thung lũng Tình Yêu. Năm  2001,  Hội  Nghị Nhân Dân Tỉnh thứ 5  lấy quyết định phát triễn du lịch  kinh tế cho Đà Lạt  các năm 2001 – 2005 và hướng tiến tới đến năm 2010.  Năm 1986, dân số Đà Lạt  là 112 000  người và năm   2007 là 197 013 người. Thật tế nền kinhtế Đà Lạt đã chuyễn qua  du lịch – dịch vụ   từ 51.13 % GDP năm  1993 , lên 61.94 % năm  2000 , rồi lên  72.1 % năm 2007 ; công nghệ và xây cất   giảm từ 23.45 % xuống  16.1 % ; nông lâm  giảm từ  25.42 % xuống  11.8 % .  Một lọat  khách sạn và tiệm ăn được dựng lên thêm và nhiều biệt thự ở các vùng Trần Hưng Đạo, Nguyễn Du và Lê Lai , đường phố  ngày 3 tháng 4  chuyễn thành nguồn cung cấp cho du lịch. Những lễ hội cũng là những cơ hội cho Đà Lạt  xây cất thêm cơ sở mới hay tái thiết nhiều khu vực như đường Hòang văn Thụ,  Hồ Tuyền Lâm,  công viên Yersin,  công viên Ánh Sáng, các vườn hoa thị xã , làm  sạch, đúng văn hóa – văn minh hơn các xã thôn ấp v.v… :  năm 1993 là lễ hội kỷ  niệm 100 năm  thành lập Đà Lạt  ở sân vận động Đà Lạt,  năm  2003 là lễ kỷ niệm 110 năm, năm  2005 là lễ kỷ niệm   30 năm “giải phóng” Đà Lạt, năm 2006 là lễ hội Trà ( Chè ), các năm  2005 và 2007  là lễ hội Hoa…

 Địa hình

     Địa hình Lâm Viên là  3 cao nguyên  và là đầu nguồn của 7 hệ thống sông lớn . Cao nguyên Đắc Nông- Gia Nghĩa , nằm phía tây Cao nguyên Di Linh và  Cao Nguyên Đắc Lắc . Hai Cao nguyên này nguyên là một  khối thống nhất vào thời địa chất xưa cỗ, nhưng bị hệ thống sông Đá Dựng ( Da Dung ) và các phụ lưu chia xẽ ra thành những mảng lớn, nhỏ khác nhau.  Cao Nguyên  Bảo Lộc – Di Linh, cao độ 800m trên cao nhiều đất đỏ, trải dài lên tới Đức Trọng – Liên Khương ( Khàng ) chứa sông Đá Dựng , thượng lưu sông Đồng Nai, địa hình bằng bẳng hơn, hướng nghiêng từ Đông sang Tây, độ chênh cao chừng 200m. Núi cao nhất  phía đông thị trấn Di Linh là  núi BraLan cao 1864m, núi Bnom Đơi cao 1276m,  phía Bắc Bảo Lâm là núi Bnom Bun Tơ Rao cao 1465m , phía tây Bảo Lâm gần đèo Bảo Lộc là núi Bnom  Quan cao 1211m …   Cao nguyên Đà Lạt, cao độ 1500m, có những dãy núi bao quanh cao đến 2000m, cao nhất là núi Bi Đúp 2287m phía Nam Lạc Dương ,ở  thượng nguồn sông Đa Nhim, ranh giới hai tỉnh Ninh Thuận- Lâm Đồng , núi Hòn Giao 2010 ở ranh giới  Khánh Hòa – Lâm Đồng phía  Đông huyện Lạc Dương, núi Chư  Cang Ca ( ? ), thuộc dãy núi Lâm Viên – Lang Bian  cao 2163 m  gần Lạc Dương  phía Bắc Đà Lạt,  núi Chư  Yan Du cao 2040m , núi Chư Yan Kao gần nguồn sông Đá  Đang, núi Gia Rich 1923m gần nguồn đá sông Đá Dựng….   . Quanh Đà Lạt là núi Lap-be( Labbé ? ) Bắc cao  1739m ,  núi Lap- be  Nam  cao  1709 m,   núi  You Lou Rouet  cao  1615 m . Phía  Nam  giữa  Đà Lạt  và Đức Trọng  núi Voi – Quan Du  cao nhất chỉ đến 1805m . Các núi dọc ranh giới Đắc Lắc – Lâm Đồng  như núi  Đa Nam Rong cao 1433m,   núi Đa M’Nong cao 1148m   …

     Đất đai Lâm Đồng có 8 lọai: đất đỏ hay latosol nâu  nhóm Ferrasols rất nhiều ở Cao nguyên Bảo Lộc – Di Linh – Đức Trọng, đất  feralit – podzolic vàng đỏ  cũngrất nhiều ở cao nguyên Lâm Viên -Lang Bian, đất xám điển hình Haplic Acrisols, đất xám có sỏi latêrit ferric Acrisols  chiếm đến  đất xám ferralit ferallic Acrisols trên phù sa cổ sinh, các lọai Acrisols chiếm đến 659 648 ha; đất phù sa các sông suối chiếm  28 866 ha, và  một ít đất xói mòn mạnh trơ sỏi đá- leptosols chỉ  có 678 ha,  đất  mùn alit núi cao Alisols cũng chưa đến 870 ha.  Lọai đất đỏ  latosols  nguồn gốc  basalt  tìm thấy ở  cao nguyên Bảo Lộc  ( Blao )- Di Linh chiếm  212  309ha trong số 260 000 ha đất nông nghiệp tỉnh nhà, rất thích hợp  để trồng cây công nghệ đa niên, rau đậu  và hoa  cao phẩm  xuất khẩu tỉ như  cà phê,  trà ( chè ),dâu nuôi tằm , hột điều ( đào lộn hột ), rau- hoa – đậu . Đất lâm nghiệp chiếm 622 000 ha, bao phủ  61 % diện tích.

Khí hậu, thủy văn 

     Khí hậu Lâm Đồng là khí hậu gió mùa nhiệt đới, thay đổi tùy theo cao độ địa hình.   Có 2 mùa chánh : mùa mưa  kéo  dài từ tháng 5 đến tháng 11; mùa khô từ tháng 12 đến tháng 4.   Thời tiết mát lạnh quanh năm, trung bình là 190C. Lượng mưa trung bình hàng năm là 1800 mm  và ẩm độ trung bình là 85%.  Khí hậu lý tưởng  làm nơi nghỉ dưỡng, cùng lúc phát triễn thực vật và động vật  thích thời tiết mát lạnh, ôn đới. Đáng lưu ý là khí hậu này không xa các  thị trấn  đô thị lớn và các châu thổ  đông dân. Tuy nhiên c ó 4 hiện tượng thời tiết  bất lợi cần biết là : sương mù – fog, sương muối -Salt flog, mưa đá – hail , mưa  như  trút – cloudburst. Nhiệt độ thấp, đặc biệt vào đêm và sáng sớm, hơi nước trong không khí  dễ dàng đi tới bảo hòa , gây ra sương mù nhiều ở Lâm Đồng hơn là ở đồng bằng châu thổ kế cận.  Vùng quanh rừng  thường nhiều sương mù hơn là các đồi trung tâm. Tại các thung lũng vì gió lạnh và ẩm ướt hơn, sương mù che phủ lâu hơn  là các nơi cao, thoáng khí.  Tại Đà Lạt, sương muối tai hại cho cây trồng, thường xảy ra  vào  các tháng giêng – hai. Tháng 3 thì ít khi xảy ra.  Mưa như trút( nước )   là vào hai tháng đầu mùa mưa  gần như  mỗi buổi trưa chiều.  Số lần mưa  như trút  ở Liên  Khương nhiều hơn là ở Đà Lạt .  Mưa đá xảy ra vào  mùa nóng nhiệt trong năm . Ở Đà Lạt vào các tháng 4, 5 ,6  đặc biệt vào 2 tháng đầu mùa mưa, tuy cũng rất ít  khi xảy ra. Các sườn đồi núi có gió thổi nhẹ và thoáng khí,   mưa đá nhiều hơn là tại  các thung lũng .

     Lâm Đồng có sông Đồng Nai và là nguồn nhiều sông  chảy về các châu thổ đồng bằng  Duyên hải miền Trung , thóat ra Biển Đông, như  nguồn Sông Lũy, nguồn sông Quao: hay chảy về phía Tây như nguồn sông Krong Knô , môt  phụ lưu lớn của sông Srek Pok , cũng là một nhánh  lớn sông Mê Kông . Tuy lưu vực sông Đồng Nai trong nước chỉ là 37 394 km2 ( tòan bộ là 42666 km2 ), nhỏ hơn lưu vực sông Mê Kông trong nước là 71 000 km2 ( tòan bộ là 795 000 km2 )  và lưu vực Sông Hồng là 61 000 km2 ( tòan bộ là 143 000 km2 ) , chiều dài chảy trong nước là 635 km, trên sông Hồng  566 km và trên hẳn sông Mê Kông chỉ dài 230 km . ( theo Thái Công Tụng – 2005 ) . Sông Đồng nai bắt nguôn  trên cao nguyên Lâm viên – Lang bian từ hai dòng nhỏ cao độ  1500 m trên mặt biển :  nguồn suối Đá Dựng ( Đa Dung ) phía ta6t Đà lạt , nơi  có đập Ankroet tại suối Vàng ; và   sông Đa Nhim là nguồn phía Đông   có một hồ nước nhân tạo của đập thủy điện Đa Nhim ở Đ ơn Dương ( Dran ) , đổ nước  từ trên cao độ 1100m ở đèo Ngọan Mục  theo hai đường ống khổng lồ xuống nhà máy phát điện  Krong Pha , dưới chân Đèo. Hai nguồn nước  suối nhỏ từ rừng sâu này len lỏi giữa các hốc đá,các triền núi chảy gần như song song  theo hướng Bắc Nam  tới địa phận huyện Di Linh. Tới đây, nguồn phía Đông đổi dòng , nhập với  dòng phía Tây tạo ra  sông Đồng Nai , thuộc địa phận huyện Bảo Lộc.  Du khách đi  Đà lạt theo đường quốc lộ số 20 , thường thấy  các thác nước ầm ầm như  Gu Ga ( Gougah )  hay thác Liên Khàng  do nguồn Đa Nhim chảy xuống.  Bên kia đường,  cách chừng 40 km đường đất , là thác Pông Gua (Pongour )hùng vĩ , cao nhất vùng Đà Lạt  do nguồn Đá Dựng tạo ra.  Các thác Đatanla , thác Prenn,  nhận nước từ hồ  Than Thở , hồ Xuân Hương , chảy qua cầu Ông Đạo tới thác Cam Ly cuối cùng tao ra hai thác  Gù Ga và Pông Gua .  Gần thị trấn Bảo Lộc có thác Đăm Bri.  Thác này tiếp tục chảy xuống  đèo Bảo Lộc tạo thành Suối Tiên ở lưng chừng đèo.  Rồi dòng sông tiếp tục  chảy trong rừng sâu qua địa phận không còn thuộc Lâm Đồng nữa,  mà thuộc tỉnh Đồng Nai- Biên Hòa là Định Quán, Kiệm Tân, Bến Nôm,Cây Gáo,  Đại An ….   Giữa các làng này , dòng sông có nhiều đá ngầm  chắn nước dài khỏang 20Km, làm thuyền bè không lưu thông được.  Đến mùa mưa, dòng nước chảy xiết , ầm ầm suốt ngày đêm như những tiếng gọi của rừng thẳm.   Nay đã có  đập thủy điện Trị An điều hòa phần nào. Qua khỏi thác Trị An, sông Đồng Nai chảy trên một địa thế  tương đối bằng phằng, thoai thoải từ  Tây  sang Đông .  Tùy đọan dòng sông khá sâu, nước chảy chậm, hòa hõan, ghe tàu nhỏ đi lại dễ dàng

Tài Nguyên Thực vật và Động Vật

Thực vật

   Trần Đăng Hồng( Việt Nam Văn hóa và Môi trường- 2012 )  cho biết là Việt Nam đã  xác định  được 4 trung tâm sinh học đặc hửu, địa phương chánh – major endemic  biogeographic centres: Vùng núi Hòang Liên Sơn  ở Bắc Việt,  các rừng ẩm ướt   phía Bắc miền Trung, vùng núi Ngọc Linh   ở Quang Nam – Kontum , và Cao nguyên Lâm Viên . Cao nguyên Lâm Viên – Lang Bian plateau ( bà B’liang là vợ của ông B’ian, một cặp vợ chồng theo truyền thuyết )  có nhiều núi , cao nhất là đỉnh  Bi Đúp 2287m , đỉnh Lang Bian- Chư Căng Cảo- Núi Bà ( ? )  2163m.  Có 2 lọai rừng chánh ở Bi Đúp – Núi Bà :  rừng thông – coniferous và rừng. Lọai chánh yếu ở rừng thông là Pinus kesyia   lòai thông 3 lá ( tên cũ là P. khaysya )  cây cao 30m,  lá kim dài 15 – 20cm ( cũng tìm thấy nhiều khá nhiều ở rừng núi Cao Bằng – Lạng Sơn – Quảng Ninh ), một lòai thông ít hơn là Pinus merkusiana ( tên cũ là P. merkusii ) là lòai thông 2 lá, một đại mộc cao đến 50m, lá  kim dài hơn đến 18-25 cm  mọc ở cao độ thấp hơn như ở rừng Di Linh – Bảo Lộc, nhựa thường được khai thác. Các lòai thông khác là Thông Rũ P. patula   cũng có ba lá , nhưng lá kim ngắn hơn  10 -13 cm và hay được trồng làm cây kiểng, thông Đà lạt Pinus dalatensis , lá kim chụm lại 5 lá , đại mộc cao đến 40m ,  gốc thân to  1.5m   mọc ở đỉnh núi ( còn có thể tìm thấy ở núi Ngọc Lĩnh ), Thông Sri Pinus Kremfii ,  tàn lá không giống thông mà giống một song tử diệp hơn , đại mộc cũng rất to,  lá dẹp và rộng …Rừng thông  là loại cây cối mọc theo dãy – chuổi thành quả của việc đốt rừng làm rẫy hay săn thú  liên tiếp.  Nếu  rừng thông không bị đốt cháy thường xuyên thì  rừng lá rộng luôn luôn xanh sẽ thay thế.  Rừng thông hiện còn chiếm khỏang  21  018 ha hay 29 % rừng bảo vệ thiên nhiên .  Rừng luôn luôn xanh chiếm 36 069 ha  hay 11%  khu dự trữ bảo tồn thiên nhiên. Phần lớn  rừng luôn luôn xanh là rừng hổn hợp thông và  cây lá rộng;  các yếu tố “ Thông’  là Thông Đà Lạt, Tô Hạp Bách Calocedrus  macrolepis , một đai mộc to họ Tùng,  lá như vảy, hột trong chùy  ( trái khô )  lại có cánh,, gỗ làm nhan thơm , lâu mục  và làm hòm,  Pê Mu Fokienia hodginsii  cùng họ Tùng với Calocedrus, một đại mộc  cao 20m ,  nhánh  dẹp, lá là vảy dẹp , gỗ làm hòm và đồ mỹ nghệ, Thông  Nang hay kim giao kết lợp Podocarpus imbricatus , một đại mộc to, thân thẳng cao đến 30m, hột đỏ  khi chín; trong thập niên 1950 lại du nhập trồng Vương tùng( vương vì  6 nhánh mọc ngang hình chữ Vương?)  Araucaria  columnaris , lúc đó làm cây kiểng, ở Bảo Lộc mọc tốt cao 4- 25m, nhưng ở nguyên quán Tân Caledonia lại cao đến 60m …Có thể phqân chia rừng luôn luôn xanh ra làm 2 nhóm : rừng núi thấp lower montane và rừng  núi cao – upper montane . Rùng núi thấp  chủ yếu là các lòai thuộc họ Dẽ Fagaceae và họ Quế Lauraceae   gồm các lòai Cà Ối Ấn Castanopsis indica, các lòai Dẽ Lithocarpus spp., Dẽ Sồi  Quercus spp., Cà Đuối Laurus spp. và Cryptocarya spp., Bời Lời Litsea spp. Đặc điểm rừng núi cao luôn luôn xanh  là chứa  các tông – genera như tông ổi ,roi , mận ta ( lý …) Sygysium họ Sim Myrtaceaea và tông  Đổ Quyên Rhododendron họ Đổ Quyên Ericaceae . Rừng núi cao  Bi Đúp – Núi Bà là một rừng thực vật rất đa dạng và rất đặc hửu.  Khảo sát các năm 1993 và 1994  thống kê được  827 lòai cây có mạch , trong đó 87 lòai là đặc hửu cho Tây Nguyên nước nhà.  Sự kiện đặc hửu là  23 lòai thực vật  mô tả trong vùng đã  dùng những tên địa phương như  dalatensis , bidoupensis ,  langbianensis. Đáng tiếc là nhiều  lòai cây vùng  Bi Đúp – Núi Bà cũng bị liệt kê vào  Sách Sổ Đỏ Việt Nam,  danh sách đỏ IUCN ghi các lòai cây có nguy cơ tuyệt chủng.  Hai lòai  đã tuyệt chủng  hoa Lan vệ hài Paphiopedilium delanatii   và Chai lá phẳng Shorea falcata, nhưng cả hai lòai này đã trồng lại hay tìm thấy ở nhiều nơi . 6 lòai  bị hiểm nguy lớn: Thiên tuế lược Cycas micholitzii ,Kiền kiền Hopea  hainanensis , Xòai núi Mangifera flava , Sâm  nam  Panax vietnamenis  , Thông Đàlat Pinus dalatensis  và Thông lá dẹp Pinus Kremfii . (Trần Đăng Hồng – 2012 ) .

Động vật 

     Khu Bảo tồn Thiên Nhiên  Bì Đúp- Núi Bà cũng chứa rất nhiều  lòai động vật  đặc điểm  đặc hửu. Đến nay đã thống kê  382 lòai có xương sống, gồm  89 lòai động vật có  vú, 202 lòai ,   chim , 62 lòai  bò sát   và  29 lòai lưỡng cư.  Một số lòai  vật có vú  đáng  bảo vệ  ở Bi Đúp – Núi Bà  gồm có vượn  má bờm – buffcheeked gibbon  Hylobates  gabriella ,  và  Bò Min-  Gaur Bos gaurus . Mới đây   dự án đầu tư ( du lịch ? ) báo cáo là  vừa tìm thấy lòai đặc hửu Nai –  Hươu ( Mểnh . Mang )  khổng lồ – giant Muntjac  Megamuntiacus vuquanggensis. Hình như Heo rừng mụn cóc – warty pig Sus buculentus ghi là tuyệt chủng nay tìm ra vài con ở Lào . Trâu rừng và Bò  tót ( ? )  krouprey Bos sauveli  đã mất dạng và  Nai nâu ( Nhật bổn ) – Sika deer chỉ  còn tìm thấy ở vài trại chăn nuôi . Voi cũng chỉ còn chút it trong rừng Lâm Đồng phía giáp giới  tỉnh Đắc Nông  ( năm 1980 còn  1500 – 2000 con , nhưng năm 2000 trụt xuống còn chừng  85 – 114 con ) .  Thập niên 1950- 60 “ Cọp Khánh Hòa” còn nhiều ở rừng quanh Bảo Lộc – Di Linh,  nay theo  nhà động vật học Vũ Ngọc Thành,  cả nước chỉ còn  độ 80 con. Tây Ngu một sừng đã tuyệt chủng và Tây Ngu hai sừng  chỉ còn 8 con lãng vảng ở rừng Cát Tiên. …

Chim chóc

     Các vườn  hay trại gầy giống  rau – vegetables và hoa – flowers vùng Đà Lạt đã nổi tiếng khắp nước . Du Khách viêt Nam thích đến Đà Lạt hưởng khí hậu mát lạnh, rừng thông, hồ, thác v.v…   Nhưng các nơi chim chóc sinh sống cũng là nơi nên đến thưởng ngọan .

     Núi Lang Bian hay Núi Bà chỉ cách Đà Lạt 12 km về phía Bắc, rất dễ đến nơi bằng tắc xi xe ô tô hay  mô tô – xe gắn máy .  Một đường mòn dẫn lên đỉnh núi ngang qua  rừng thông đến rừng lá rộng luôn luôn xanh . Lòai chim Sẽ xanh lục  Việt Nam – Vietnameses Green Finch tìm thấy ở nhiều cây thông  suốt lối mòn,   cùng lọai Mỏ chéo đỏ – red crossbill  ở thông gần đỉnh  . Lòai đặc hửu Sáo hót mỏ khảm vàng- collared laughingthrush yellow-  billed nuthatch,  chim  Mào đen  black crown  fulvettia  tìm thấy ở rừng luôn luôn xanh   ở đường lên đến đỉnh .  Các lòai địa phương khác đáng chú ý gồm  Cochoa Xanh lục, Sáo hót  má trắng , Sẽ Xanh lục,  Sáo  mủ đen blackhood laughingthrush, Chim hút mật  cổ đen black throat sunbird và chim Cutia việt nam .

     Hồ Tuyền Lâm nhân tạo chỉ cách thị xã 3km, đến nơi dễ dàng bằng xe mô tô hay ô tô, nhưng cần thuê tàu đò đến phần rừng còn sót lại  ở xa cuối hồ, nơi tốt nhất tìm thấy chim chóc . Có nhiều lối mòn đi qua rừng, nhưng chúng không ghi dấu rỏ và khó tìm. các chim đặc thù địa phương là   Sáo hót mõ khảm vàng,  Sáo đầu( mủ ) đen,   Crocias  mào xám – grey crocias,  Sẽ việt nam  xanh lục,  Cutia việt nam …

     Thung lũng Tà Nùng cách Đà Lạt 15km là nơi tốt nhất  thưởng thức Crocias  mào xám, Chim Ác là   Xanh lục Đông Dương –  Indochine green magpie, Sáo hót mõ khảm vàng,  Sáo hót mủ đen, Sáo hót má trắng, Sáo hót ngực vàng cam,  Vẹt đầu xám –  grey  headed parrot.

     Đèo núi San  rừng phủ đầy  trên đường chánh từ Di Linh xuống Phan Thiết,  cách Đà Lạt chừng 80km là nơi đáng tin cậy nhất để tìm thấy  Sáo hót  ngực vàng cam, Pittas   gáy xanh dương và rỉ  sét – blue  and rusty naped pittas , Cochoa xanh lục, Sáo hót đầu đen, Sáo hót   má trắng,  Fullvetta Đông Dương và Vẹt đầu xám .

 Tài nguyên khóang sản

     Khóang sản tỉnh Lâm Đồng  xuất hiện vào thời đại khóang hóa  Đại Trung Sinh –  cuối Mesozoic cuối –  sớm Kainozoi và Kainozoi .  Thời kỳ khóang hóa Mesozoi cuối và  Kainozoi sớm  là lúc  magma hỏa diệm sơn tích cực  họat động , tạo ra và làm thành hình  một lọat khóang hóa Đà Lạt – Bảo Lộc.  Đặc điểm là khóang  hóa vàng Au, Bạc Ag, Thiếc Sn , Wolfram W,  Chì Pb, Arsenic As và một số  kim lọai vật liệu xây dựng. Thời kỳ khóang hóa  Kainozoi vào lớp vỏ ( da)  làm ra những  vùng  lỗ lũng , giữa các núi và lớp basalt bao ngủ nới rộng.  Thời kỳ này gồm có nhiều  quặng  nội sinh hay ngọai sinh, giàu có và đa dạng như  bentonít , diatomit , châu báu – quý kim . sét, thiếc  ,vàng,  khóang liệu wolframit , cát , sỏi , sạn và nước nóng . Phòng 6 Cục Địa Chất đã tổng kết cả thảy 165  lắng đọng – deposits khóang chất  gồm  23 mỏ lớn, 3 mỏ trung bình , 48 mỏ  nhỏ  và 91 lắng đọng quặng.  Lắng đọng  quặng và các mỏ chia ra làm 7 nhóm ở tỉnh Lâm Đồng : than đá , kim lọai, không kim lọai, vật liệu xây cất, châu báu – đá quý, chất phóng xạ bất thường, nước khóang và nước nóng.

     Trong số kim lọai,  đáng kể nhất tỉnh  là  Nhom – Aluminium  với quặng bô xít – bauxite ore . Nhắc lại  hai tỉnh chánh Việt Nam có  nhiều quặng bô xít là Đắc Nông và Lâm Đồng  ở miền TâyNguyên, chứa   tổng cọng chừng 5.4 tỉ tấn bô xít.   Các năm  2005 -2006,  Phân tích Khúc xạ X- ray – Diffraction Analysis cho thấy quặng  bô xít ở đây là gibbsite ,  lọai quặng các nhà    máy tinh luyện aluminia  thích dùng nhất làm nguyên liệu chế biến. Các mẩu phân tích  cho biết   nồng lượng trung bình Al2O3 là 48. 40 % ở các  ven mạch  cách lớp đất mặt  chỉ từ 0.4 m đến 5.5 m  tối đa .  Dự trữ bô xít latêrít  tổng cọng ở Lâm Đồng là 1 114 triệu tấn, dưới sàn vỏ khóang hóa Túc Trưng. Các nhà khảo cứu Địa Chất  đã tìm ra 2 mỏ bô xít có gía trị khai thác thương mãi ở Tân Rai và Bảo Lộc và 6 quặng lắng đọng ở Riong Tho, Dangkia, Lan Tranh và  phía tây Đèo Bảo Lộc, Sơn Điền  và Gia Bạc .

     Wolfram Lâm Đồng  là quặng womframit  kim lọai ở Lộc Bạc và các hàng dài cũng là Wolframit kim loại ở Lộc Lâm ; đã được khai thác từ lâu. Vàng( Kim)  Lâm Đồng là sa khóang- placer gold  ở lớp sỏi sạn  và vàng nguồn gốc – original gold. Vàng nguồn gốc thủy  nhiệt- hydrothermal   là quặng vàng – quartz , quartz – sulfide vàng và sulfur- vàng –  bạc. Tầng lớp quartz – vàng  chứa sulfur (  ít hơn 5 %)  khám phá ra ở mỏ vàng Đại Ninh  và các lắng đọng  quặng ở Man Ling, Sao Nam . Tầng lớp  quartz-sulfide vàng  phát triễn rộng rải hơn và nhiều hơn  ở mỏ vàng  Trà Bang và các lắng đọng quẳng ở Xuân Thanh, Trại Hầm,  Phi Liêng v.v…    Tầng lớp  sulfur- vàng – bạc ở các đá phún hỏa diệm sơn  sàn Đơn Dương, nhưng chỉ khai thác  được lắng đọng vàng ở Tuy Sơn .  Vàng sa khóan tìm thấy ở  7 mỏ nhỏ, trong đó  vàng nguồn gốc  Trà Nang có dự trữ ước lượng là  652 Kg .  Dân gian  đã khai thác  các mỏ nhỏ  Tây Sơn , Đầm Voi , Phi Liêng,  Đa Ding King , Da N’Bô , Da P’loa.  Khám phá ra  Thiếc ở 3 mỏ lớn : Núi Cao, Đa Thiện, Thái Phiên. Thiếc sa khóang có dự trữ là 1793 tấn SnO2.. Sắt Lâm Đồng phẩm giá xấu ,  gồm hai lắng đọng quặng ở Kon Tat và Liên Đàm.  Lắng đọng Liên Đàm là  do latêrit-hóa olivine basalt của sàn Là Ngà,  dưới  đất latêrít đỏ,  theo thể dạng  banh cứng rắn , xỉ – tro núi lữa phun,  màu gạch đỏ , thể tích 2. 746  triêu tấn.  Lắng đọng  Kon Tat là hệ thống  quartz-  hematit,  nguồn gốc thủy nhiệt.       Quặng sắt  ở  đá granit phức tạp Cà Ná đã được  khai thác từ năm 1909 .  Ở  phía Đông  vùng gãy,  dọc Phan Thiết và Di Linh, ước lượng chứa 6 750 tấn chì Pb.  Phía Tây vùng gãy Phan Thiết – Di linh ước lượng chứa  101 220 tấn Chì.  Gia Bạc có những hệ thống đa lọai kim lọai – sulfur ( chì –  kẻm –  đồng- bạc – arsenic)  chứa chì – kẻm,  nguồ n gốc thủy nhiệt.  Lắng đọng  Antimoan Lâm Đồng là ở vùng Tiên Hòang ( Cát Tiên ).  Các yếu tố kim lọai chung với antimoan là Ag, Pb , As , Sn , Cu , Zn.  Dự trữ ước lượng là 25 000 tấn.

     Không  kim lọai-non metallic  là  cao lanh- kaolin có 2 mỏ lớn  ở Trại Mát và Prenn, cùng  các lắng đọng  ở B’ Nam, thôn ấp Teurlang Tho, Ngọc Sơn, Lạc Nghiệp ; trử lượng trên 127 triệu tấn . Felspat Lâm Đồng   nguồn gốc pegmatit .  Khám phá bentonit ở mỏ  Tam  Bò và 3 lắng đọng  ở Đăn Kri ,  Đa Le và Di Linh. Riêng sàn DiLinh  có trử lượng trên 11 triệu tấn. Diatomit cũng nhiều ở trầm tích hồ của Di Linh trử lượng gần 64 triệu m3 . Vật liệu xây cất  thô  là sét và mácnơ-sét vôi ( marl, marne)  . Đã khám phá ở tỉnh nhà  3 mỏ sét lớn, 3 mỏ nhỏ và 9 lắng đọng sét, trử lượng là 146.5 triệu m3 . Mác nơ  rất hiếm ở Lâm Đồng, bề dày ít khi quá 1m, ở sàn  đèo Bảo Lộc. Ngòai ra  còn tìm thấy mác nơ ở hai lắng đọng tại Đơn Dương .

     Về châu báu và qúy kim , trước tiên phải kể đến ngọc xanh xa phia – sapphire  ở gần đèo Bảo Lộc, ở trong đá granit Phức Tạp Định Quán  và ở hai mỏ Tiên Cơ, Sa Vo cùng 4 lắng đọng  quặng ở Lâm Hà,  sông KrongKlet,  Xuân Trường , Sơn Điền.  Mỏ Tiên Cơ  có dự trữ 678.2 Kg . Nồng lượng xa phia là 3. 55- 12g/m3 . Xa phia Lâm Đồng màu  xanh lục lợt đến đậm xanh , phản chiếu  cao .   Xa phia tương mãi  có thể lên đến tỉ xuất 1,.7 %, hột nặng trên 6 ca ra- carats. Ngọc quartz topaz   tìm ra năm 1991  ở lắng đọng dòng sông vùng xã Lộc Tân. Quartz Sửa – Milky  màu sửa, trắng,  xám khói và kích thước từ  vài cm lên đến 40 cm.  Quartz này hình  lăng kính – prismatic.  Tinh thể quartz  lắng đọng từng điểm ở thung lũng Sum Brak,  có nguồn gốc  thủy nhiệt  và các kênh mạch phát triễn  ở các lỗ hổng  đá granit Phức Tạp Định Quán .  Opal  là quý kim  phát triễn khá nhiều ở sàn Túc Trưng, tìm thấy ở  thung lũng sông Đa  Nhim  Đa Si Chu, DiLinh, Bù Ni Nhỏ ( ? ) , Phú Hiệp;  kích thước từ vài chục cm đến 50- 60 cm ,  màu sửa, xám, vàng lợt hay nâu đỏ.  Tectit  dùng làm đồ  nữ trang  và nghệ thuật tinh vi  hình giọt nước mắt, hột đào lông , hình cầu hay thanh que, màu xám đậm, đen tuyền …  tìm được 7 lắng đọng quận tại Đà Lạt, Plang Dra, Cầu Đất,  Đức Trọng,Tân Phát, Đại Lao.  Ở nhóm  phóng xạ – radioactive group, nên phân biệt : nhóm đá Phnóng xạ ở Dinh Dan ( ? )  theo mạch felsit  rộng 25 – 30m dài 16 50m ở sàn đá Đơn Dương.  Cường độ  phóng xạ  là 100 – 300 muy R/ giờ, cao nhất  là 7 900 – 1700 muy R/giờ, nồng lượng uranium là 86.4 g/ tấn,  Th 13.7g/t , Ce  58.2 g/t,  La 35.4  tấn , TR 128.5 g/t .  Lắng đọng phóng xạ Quan Du  là trong tuf,  porphya felsit ,  đá sỏi lăn tròn  sulfur với cường độ phóng xạ  150- 200muyR/giờ , cao nhất 720 muy R / giờ, nồng lượng uranium 296gr/t …  Lắng đọng  Da Prenn  là  felsit porphyr ở các ven-mạch phía  Đông Bắc và Tây Nam  sàn đá phún lữa Đơn Dương. Nồng lượng uranium là 52.5g/t. Lắng đọng Gia Oa  có cường độ phóng xạ  80- 100 muyR / giờ, nồng lượng   uranium là 2.5g/t  . Tươởng cũng không nên quên than non , than nâu – lignite , trử lượng  là 8.6 triệu tấn  ở các sàn Di Linh , và các mỏ  lắng đọng    ở Đại Lảo,  Đa Sro, Sam Brac , Dinh Trang Thượng, Lam Sơn. Và cuối cùng là than bùn- peat ở Lap Be, Đa Thiện, Kim Lê, Man Ling,Phí Liềng,  hồ Chiến Thắng , An Bình,  Đại  Lão.  Các mỏ than bùn Da Klou Kia, Kim Lê  chứa  lắng đọng lớn hơn cả và than bùn lọai tốt, cách thị trấn Di Linh chỉ  chừng  2km , giao thông tiện lợi, khai thác dễ dàng làm phân bón .

Cũng cố, nâng cấp  hạ tầng cơ sở cho phát triễn bền vững hơn

Giao thông

     Đường bộ Lâm Đồng dài 1700km  đến mọi xã ấp và gia cư.  Quốc lộ 20 nay nối quốc lô 1A  Gia Kiệm tỉnh Đồng Nai  ngang qua Bảo  Lộc , rồi Di Linh đến Liên Khương , Dà Lạt . Quốc lộ 27 nối Phan Rang – Tháp Chàm tỉnh Ninh Thuận , ngang qua Đơn Dương ( Dran ) ( có đường  tỉnh lộ 41 lên Đà Lạt)   qua Đức Trọng ( Liên Nghĩa ) đến Liên Sơn ( hồ Lak , tỉnh Đắc Lắc )  rồi  theo đường  52 qua  Giang Sơn đến Ban Mê Thuột ). Đường 28  nối  Phan Thiết ngang qua  Gia Bắc( Gia Bạc ? ) đến Di Linh  rồi tiến lên  Gia Nghĩa – Đắc Nông  đế Đắc  Song, Đắc Mil nối cùng quốc lộ 14 .  Đáng kể là  gần đây  là thiết lập dự án xa lộ cao tốc – express way Đà Lạt – Dầu Giây và Đường Tây Trường Sơn  từ Đà Lạt đến tỉnh Quảng Nam. Phi trường Liên Khương cách trung tâm thị xã Đà Lạt 30km, đang được  nâng cấp thành phi trường quốc tế có phi đạo dài 3250m  các máy bay cở trung bình như   A320, A321 hay tương đương có thể đáp xuống. Mỗi ngày đều có chuyến bay Liên Khương –  Sài Gòn , TP HCM. Đường bộ  phi trường Liên Khương  sẽ nâng cấp  thành  xa lộ cao tốc.   Đường xa lộ mới số 723, nối Đà Lạt với Nha Trang, hai thành phố du lịch  lớn, sẽ được rút ngắn để bớt tốn  thì giờ  di chuyễn.  Chỉ 60 km đường sông Đồng Nai ở Lâm Đồng là tàu bè đi được vào mùa khô ,  phần lớn thuộc vùng Cát Tiện Lâm Đồng có 8km  đường xe lữa dành cho du khách,  từ thị xã Đà Lạt đến Trại Mát.

Điện Lâm Đồng  và khuôn khổ Thủy điện Việt Nam

     Mạng lưới điện quốc gia  cung cấp đầy đủ điện  cho Lâm Đồng- Đà Lạt.  Hệ thống điện nay bao gồm  các nhà máy thủy điện Đa Nhim ( 160 000 Kw ), Suối Vàng ( 3000 Kw), Hàm Thuận – Đa Mi ( 475 000 Kw),  Đại Ninh, giữa khúc đọan Đức Trọng – Di Linh đường 20 (  300 000 Kw )  Các nhà máy thủy điện lớn khác là Đồng Nai 3 (môt tua bin 180 000 Kw ) khởi công năm 2004 và hòan tất  tháng 10 năm 2010 và Đồng Nai 4 ( hai tua bin 340 000 Kw ) đang xây dựng, chưa hòan tất,  dù tháng giêng 2011 đã đào xong đường hầm đổ nước chạy máy dài 2350m, đường kính là 8m. Tháng 9 năm 20132 , Chánh phủ đã hoãn xây cất 2 đập Đồng Nai 6 và Đồng Nai 6A , vì 2 đập này có cơ  phá hủy 327 ha rừng, 128 ha này ở Công Viên Quốc Gia Cát Tiên phía Đông  Bắc TP HCM. Nhắc lại là Công viên  Cát Tiên  là nơi  có khỏang 1700 lòai cây hiếm quý nước nhà và hơn 700 lòai động vật và chim chóc cư ngụ, nhiều lọai bị nguy cơ tuyệt tích. Lâm Đồng hiện đã có 73 hồ nước nhân tạo và 92 đập thủy điện lớn, nhỏ .

     Cuối năm 2009,  33%  công xuất điện Việt Nam là thủy điện,  17 % là khí dầu – gas, 12 % là than đá,  6 % là dầu lữa. Năm 2010 , Việt Nam sản xuất 119.1 tỉ Kwgiờ – Kwh. Nhắc lại là cuối năm 2012, Việt Nam  có 220 nhà máy thủy điện đang họat động, tổng công xuất là  13. 694  triệu Kw  và 211 nhà máy thủy điện đang xây cất, công xuất tổng cọng là 6. 713 triệu Kw . Nhưng tháng 5 năm 2013, Việt Nam đã hủy bỏ  338 nhà máy thủy điện, tổng công xuất là  1 099 triệu Kw, vì các nhà  máy này không hội đủ các tiêu chuẩn môi trường. Đến tháng 8 năm 2013 lai hủy bỏ  hay ngưng thêm  67 dự án thủy điện khác nữa.   Sông Đồng Nai là sông lớn nhất tỉnh gồm ba nhánh chánh  là sông Đa Dung ( Đa Đang, Đá Dự ng ? ) , sông La Ngà và  sông Đa Nhim.   Sông Đồng Nai có tiềm  năng 15 % tổng thủy điện nước nhà, ước lượng là 270 tỉ  kwgiờ ( kwh ), sau Sông Hồng 50 %( sông Đà , sông Lô , sông Gấm )…   sông Se San , Srepok , sông Ba ở Tây Nguyên  ( đã đề cập khi lạm bàn tỉnh Gia Lai )30% tổng lượng … Đập thủy điện Sơn La trên sông Đà -Black River , huyện Mường La tỉnh Sơn La là đập lớn nhất   nước . Và cũng  có nhà máy thủy điện lớn nhất ĐôngNam Á.  Đập cao 138m ( 453 bộ Anh ) và rộng 90m , dài 1000m ( 32300 bộ ).   Dự án do Nga làm giúp ; nhà máy có 4 tua bin, mỗi tua bin công xuất 400 000 Kw ; như vậy  tổng công xuất  Sơn La là 2 400 000 Kw , phát xuất 10.  246 tỉ kw/ giờ.  Dự án đề nghị  vào  thập niên 1970.  Năm 2000,  Quốc Hội Việt Nam  ngưng  thiết lập đập,  vì thiếu thông tin tái định cư dân phải rời bỏ vùng hồ . thiếu chi phí bồi thường, mức khả thi dư án  và  xét làm đập thấp hơn. Dự án mới được Quốc Hội chấp thuận  tháng12 năm 1 2002 . Tổng phí là 2 tỉ đôla Mỹ, USD, thuộc Công ty Điện Lực Việt Nam.  Bắt đầu xây đập tháng 12 năm 2005 , và họat động ngày 7 tháng giêng năm 2011;  thiết kế xong tua bin thứ tư ngày22 tháng chạp năm 2011, tua bin thứ năm ngày 30 tháng tư năm 2012 và tua bin thứ sáu ngày26 tháng chín năm 2012.   Dự án Sơn La hòan tất ngày 20 tháng 12 năm 2012 . Sơn La ít tham vọng hơn là đập thủy điện Tam Điệp – Three Gorges Dam Trung Quốc, nay là đập thủy điện lớn nhất thế giới  ( theo Asia Times , ngày 11 tháng 11 năm 2006). Ngòai thủy điện, còn có  nhà máy điện chạy  diesel công xuất   4000 Kw ở các thị trấn Bảo Lộc, Di Linh và Cần Răng ( ? ) và tỉnh cũng dự trù làm điện gió- wind power  nữa. Nay mạng lưới điện đã đưa điện tới hầu như khắp  mọi  thôn ấp tỉnh ( 96 % gia thất nông thôn năm 2010  đã có điện? ) .

Nước

     Hệ thống cung cấp nước sạch cũng cải thiện  nhiều. Nhà máy nước Đà Lạt dung tích là 35 000 m3/ngày. Nhà máy thị trấn Bảo Lộc cung cấp 10 000 m3/ngày. Nhà máy huyện Đức Trọng 2500m3/ngày. Nhà máy huyện Di Linh  35003/ngày. Nhà máy Lâm Hà 6000m3/ngày. 7 nhà máy nước đang xây cất  ở các huyện  Đơn Dương, Lâm Hà, Dam Rong, Đa Huoai. Năm 2010,  75 % thôn ấp Lâm Đồng  đã có nước sạch.  Ngòai hệ thống nước sạch, tỉnh còn đang  xây cất  một hệ thống tòan diện chửa trị nước phế thải.

Bưu điện , viễn thông

     Nay Lâm Đồng, Đà Lạt có một hệ thống bưu điện và viễn thông  cận đại,  thỏa mãn nhu cầu phát triễn kinh tế xã hội  tỉnh nhà , kể luôn cả các nhà đầu tư.100% xã ấp đã có nối kết điện thọai . Tỉnh và thị xã hiện có 2 1007 000 máy điện thọai, cả đường dây lẫn điện thọai di động, trung bình 170 máy điện thọai cho 100 cư dân.  Ti vi đã đến với tất cả mọi người trong tỉnh .Số người thuê mua internet là 51 000.

Khuynh hướng phát triễn kinh tế xã hội Lâm  Đồng
các năm 2011- 2015

     Hướng phát triễn này nhắm vào sinh cường phẩm giá phát  triễn kinh tế xã hội, cố tạo  một đổi thay mạnh mẽ cơ cấu kinh tế, áp dụng các tiên tiến khoa học kỷ thuật  trong sản xuất và xử lý – quản  trị, đề xướng  phẩm gíá  giáo dục và huấn nghệ, huy động các tài nguyên nhân  sự, y tế, văn hóa và thể thao.

     Năm  2006, nông lâm chiếm đến 57.8 %GDP tỉnh, công nghệ xây cất 23.4 %  và dịch vụ chỉ là 18.8 %. Năm 2010, nông lâm trụt xuống chỉ còn  48.5 % GDP, công nghệ xây cất cũng trụt xuống 19. 9 %, nhưng dịch vụ đã  đạt 31. 6 %   Tăng trưởng hàng năm  GDP tỉnh nhà các năm 2011 – 2015 là 15- 16 %,  trong đó nông lâm tăng 7.8 – 8.3  %,  xây cất- công nghệ  tăng 22.5- 24.1 % và dịch vụ  tăng 19-20%.  GDP năm  2011 tăng  15 – 16 %, nông lâm tăng 8.5 – 9.5% , công nghệ- xây cất  24-25 %  và dịch vụ   19-20%. Năm 2013, GDP tăng 15.6 – 16.7 % ; nông lâm   8- 8.5 % ; công nghệ – xây cất  24- 25 % và  dịch vụ  20-21 %. Năm 2014, dự liệu  GDP tăng 14. 4- 15.2 %; nông lâm 7.5 % ; công nghệ – xây cất   20.5- 22 % và dịch vụ  18- 19 % . Dự trù  GDP mỗi đầu người năm 2015  sẽ là  44.5 -46.2 triệu ĐVN hay 2 200 – 2300 $ USD , nghĩa là gấp đôi GDP mỗi đầu người năm 2010 . Thành phần cơ cấu kinh tế năm 2015 là nông lâm 36.8 -37 %, công nghệ -xây cất  26.8- 28% và dịch vụ  32.5- 35.8 %. Xuất khẩu tỉnh  tăng  26. 3 % / năm. Hy vọng năm 2015,  lợi tức xuất khẩu sẽ  là 800  triệu USD.

Phát triễn du lịch Lâm Đồng

     Tháng 3 năm 2013 , chánh phủ  chấp thuận dự án phát triễn du lịch Tây Nguyên đến năm 2020,  với cái nhìn xa dến năm 2030. Các mục tiêu nhắm vào năm 2030, biến du lịch Tây Nguyên thành một ngành công nghệ quan trọng, tạo các khích lệ tăng cường  các lảnh vực phát triễn các kinh tế khác, tích cực  góp phần  tăng trưởngkinh tế cho tòan thể Tây Nguyên  góp phần hửu hiệu  chống đói giảm nghèo và phát triễn nông thôn, bảo đảm an sinh xã hội, duy trì  sức mạnh quốc phòng, an ninh, trật tự xã hội và an tòan. Đặc biệt ngành du lịch Lâm Đồng – Đà Lạt được xác nhận đóng vai trò then chốt,  dẫn tới chiến lược  phát triễn du lịch địa phương. Du lịch địa phương đây  là hướng về  cũng cố Tây Nguyên với  các miền khác đất nước  và các nối kết quốc tế  phát triễn du lịch, tối đa tiềm năng và sức mạnh mỗi miền địa phương và tòan vùng.  Phát triễn đồng bộ  du lịch văn hóa, du lịch sinh thái, du lịch  nghỉ dưỡng núi ; trong đó tụ điểm  trên du lịch văn hóa  cùng các hạt nhân của giá trị  vănhóa các tộc dân thiểu số Tây Nguyên, làm nền  móng cho phát triễn các thể dạng du lịch, phát triễn du lịch song song  với bảo tồn và  đề cao gía trị  văn hóa Tây Nguyên của các tộc dân thiểu số. Cùng lúc, khai thác  phát triễn  sản phẩm du lịch xanh, hầu tăng cường mức cạnh tranh và tụ điểm vào các phát triễn du lịch  căn bản cộng đồng, tạo cơ hội có công ăn việc làm ,giảm nghèo, hủy bỏ đói khổ trong khuôn khổ  một nước Việt Nam tân tiến, cận đại .

     Trên không gian du lịch,  thị xã Đà Lạt , tỉnh Lâm Đồng đã  được định nghĩa  là một nơi trọng điểm  nhờ các lực lượng đặc thù của hồ Tuyền Lâm  và hồ Đankia – Suối Vàng, chứa đựng những đặc điểm chủ trì  đúng quan điểm tài nguyên thiên nhiên, khai thác chánh thưởng ngọan, du lịch sinh thái, nghỉ ngơi và tiêu khiển, giải trí . Riêng Đà Lạt các sản phẩm du lịch chánh là  nghỉ dưỡng núi – hồ, du lịch sinh thái nông nghiệp cao kỷ, du lịch giải trí, đánh gôn,  thể thao phiêu lưu mạo hiểm, du lịch cuối tuần, tuần trăng mật, và lễ hội 4 Khóai- MICE (  thích hội họp meeting,  thích khích lệ – incentive, thích  đàm phán – conference , thích  Triễn lãm – exhibition ). Thị xã Đà Lạt ,  theo dự án,  đã được định nghĩa là  một thị trấn nghỉ dưỡng – resort city cho nhiều đường  du khách lui tới  như  Gia Nghĩa – Buôn Ma Thuột –  Pleiku- Kontum;  Sài Gòn, TP HCM và các tỉnh  Đồng Bằng Sông Cửu Long; TP HCM – Vũng Tàu  – Long Hải ; Di Linh – Phan Thiết – Long Hải – Vũng Tàu; Phan Rang – Nha Trang và các tỉnh duyên hải miền Trung : Hà Nội và các tỉnh miền Bắc ;  Buôn Ma Thuột – Kontum, – Lào …Chứa 8 điểm nóng  tiềm  năng theo dự án, 2 ở tỉnh Lâm Đồng  là Đăn Kia – Suối Vàng và Tuyền Lâm.

Các vùng và cụm công nghệ

     Lâm Đồng  hiện có 3 vùng công nghệ – IZ , Industrial  zones  và 14 cụm công nghệ – IC, industrial clusters  được chấp thuận xây cất hạ tầng cơ sở, tổng số tư bạn đầu tư lên tới  958  tỉ ĐVN , trên diện  tích 663 ha. Năm 2010, đã có 15 dự án mới đăng ký, giúp cho các IZ  có tổng cọng là  53 dự án, tổng cọng tư bản đầu tư đăng ký là 4.2 ngàn tỉ ĐVN  + 43 tỉ $ USD và các IC có 30  dự án tổng số tư bản đầu tư đăng ký là 1.1 ngàn tỉ ĐVN.  3 vùng  Công nghệ  IZ là  IZ Lộc Sơn, IZ Tân Phú và IZ Phú Hội. Các  cụm  công nghệ là  IC Gia Hiệp  ở xã Gia Hiệp ,huyện Di Linh; IC  Tân Châu  ở xã Tân Châu huyện Di Linh; IC Đa Oai , huyện Đa Huoai;  IC  Hà Lâm  ở thị trấn Đateh , huyện Đa Teh ; IC ĐaTeh  cũng ở thị trấn Đa  Teh; IC  Ka Do  ở xã Ka Do, huyện Đơn Dương;  IC Lộc Phát ở thị trấn Bảo Lộc ; IC Lộc Tiên cũng ở thị trấn Bảo Lộc ; IC Định Vân ở xã Đa Đôn, thị trấn Định Vân ; IC Đức Phổ ở xã Đức Phổ, huyện Cát Tiên; IC Lộc Thắng  ở thị trấn Lộc Thắng, huyện Bảo Lâm; IC  Lộc An ở  xã Lộc An, huyện Bảo Lâm; IC Phát Chi  ở xã Xuân Trường thị xã Đà Lạt; IC   Da R’ Sal  ở xã Đa  R’ Sal, huyện Đam Rong.  Gia Hiệp  là IC rộng lớn nhất Lâm Đồng, diện tích 644 ha  và  cuối năm 2013 đã có  6 dự án đầu tư họat động . Nhỏ nhất  là IC Phát Chi chỉ rộng 26 ha, và đến cuối năm  2013  vẫn chưa có dự án đầu tư nào cả  ở IC Lộc An.

Một nền nông nghiệp  áp dụng nhiều cao kỷ khoa học cập nhật

Rừng và lâm nghiệp         

     Lâm Đồng có 587 000 ha rừng, chiếm  60.4 %  đât đai tỉnh. Nhờ  nhiều mưa, khí hậu ẩmthấp, đất đai thích hợp nhiều lòai cây cối , cho nên thực vật  như  nhiều lọai tre , mây …  tái sinh mau lẹ sau khi khai thác. Thực vật trong rừng mang theo nhiều đặc điể điển hình cây cỏ Viêt Nam rất đa dạng  chứa tre6b 400 lọai gỗ   khác biệt nhau; vài lọai là gỗ  qúi- hiếm như Kiền Kiền Fokenia hodginsii, nhiều lòai trắc  Dalbergia sp. , thông Pinus merkusii và nhiều lâm sản khác. Rừng Lâm Đồng  cũng là nơi lý tưởng và đầy hứa hẹn  cho ngành công nghệ  chế biến gỗ, đem lại giá trị xuất khẩu . Mỗi năm Lâm Đồng đều  xuất khẩu nhiều lại gỗ  biến chế cao phẩm .  Tre và gổ thonh cũng nhu nhiều lòai khác , ở các rừng huyện Bảo Lâm, Bảo Lộc,  Đa Huoai, Đa The  là nguyên liệu tốt  chế biến  bột giấy và giấy và chánh quyền đang cổ động ngọai quốc đầu tư liên doanh hay 100% ngọai quốc đầu tư làm một nhà máy giấy và bột giấy dung lượng 50 – 100 000 tấn /năm. Tính cách  đa dạng sinh học của rừng Lâm Đồng  đóng một vai  trò  làm cảnh quan đẹp đẻ cho du khách, rừng thông Đà Lạt chẳng hạn hay  các  sông -suối- thác- hồ – bờ đê rừng Lâm Đồng cũng hút dẫn nhiều du khách trong và ngòai nước. Lâm Đồng có hai rừng quốc gia bảo tồn là Cát Tiên và Bi Đúp – Núi Bà,  vẫn còn tìm thấy nhiều lòai động vật, thực vật bị hiểm nguy ghi vào Sổ Đỏ.   Rừng Quốc gia  Bi Đúp – Núi Bà  rộng 57 000 ha, chỉ cách thị xã Đà Lạt 10km, còn bảo tồn những hệ thống rừng núi cao nhiệt đới  và nhiều động vật thực vật  quý  đặc hửu, một số đã kể trên . Rừng này cũng là một trong 221  khu quốc tế bảo tồn  chim trên thế giới và là một trong  ba vườn chim đặc hửu của Việt Nam .

Nuôi cá tầm và cá hồi xứ mát và chăn nuôi bò sửa

     Ít khi đề cập là nuôi nhiều lọai cá xứ mát như cá hồi – salmon , cá tầm- sturgeon … có thể phát triễn khắp tỉnh nhờ sông, suối , thác hồ phân phối đều các huyện,  nhưng nhiều nhất hiện nay là ở Đà Lạt,  Lạc Dương, Đơn Dương , Đức Trọng. Lợi tức nuôi cá xứ mát  lớn,  lên đến  4 tỉ đồng ĐVN/ha . Nên chú trọng hơn nữa đến các hồ thủy điện diện tích lớn như hồ  Đa Nhim: 970 ha và  165 triệu m3, hồ  Hàm Thuận – Đa Mi: 2500 ha và 695 triệu m3, hồ Đại Ninh: 2000 ha  và  320 triệu m3 v.v… Nên mở rộng thêm ngành chăn nuôi bò  và  tuyển chọn thêm các lọai cỏ nuôi bò thích hợp ôn đới – nhiệt đới , núi non cao thấp đã  hiện diện từ  các thập niên 1940- 50( ? )

Trồng trọt

     Trước tiên nên nói  qua về ngành rau  – vegetables và hoa – flowers.  Vùng rau  ( rau cải , rau đậu )  tập trung ở Đà Lạt, Đức Trọng,  Lạc Dương, Đơn Dương và Lâm Hà .  Tổng diện tích năm 2013 là 51 729 ha, sản lượng đạt 1 952 390 tấn,  xuất khẩu lên đến  8 910 tấn,  trị giá là  21,8 triệu USD. Rau cải Đà Lạt  đã sản xuất theo lối an toàn. Tuy nhiên Đà Lạt mở cửa đón mời  các nhà ngọai quốc đầu tư mạnh mẽ thêm vào khía cạnh sản xuất giống mới, kỷ thuật sản xuất cận đại, hậu thu họach và biến chế tiên tiến hơn, hửu hiệu hơn. Nhiều nhãn hiệu Rau Đà Lạt đã được công nhận, nhưng các nhà vườn trồng rau vẫn tiếp tục xây đắp tiêu chuẩn GAP cho các nhản Rau Đà Lạt , để  thỏa mãn  đòi hỏi thị trường xuất khẩu.  Rau Lâm Đồng tiêu thụ  khắp  hầu hết các đô thị  lớn nước nhà và xuất khẩu sang Nhật, Đài Loan, Thái Lan, Singapore , Mã Lai Á , Căm Bốt.  Hai sản phẩm liệt vào nhóm  rau đậu là cà chua – tomatoes và dâu tây – strawberries. Cà chua trồng nhiều ở  Đơn Dương và Đức Trọng  năng xuất cao hơn 200 tấn một ha hửu hiệu kinh tế  30 – 35 % lớn hơn trồng cà chua ở các tỉnh  khác, Ngành trồng dâu tây chỉ mới khởi sự thập niên 1960 ở Đà Lạt,  nay đã có  vài công tư  lập vườn cao năng, cao kỷ , báo chí Ca Li  vừa nhắc tới tháng 6 / 2014 .  Trồng hoa tập trung nhiều nhất ở Đà Lạt, Đơn Dương và Đức Trọng.  Hoa  Lâm Đồng đa dạng và cao phẩm tỉ như hoa lan, hoa cẩm chướng- carnations , huệ – lily , lay dơn – gladioluses , v.v….  Các  giống hoa  thay đổi mau chóng và nhiều lòai hoa mới ghi vào danh sách . Diện tích hoa Lâm Đồng năm 2013 là 7100 ha,   sản lượng hoa cắt cành -cut flowers  là 1945  triệu cành, xuất khẩu 200 triệu, trị giá 26 triệu USD. Hoa Lâm Đồng tiêu thụ  khắp các tỉnh Việt Nam  và hoa xuất khẩu Lâm Đồng chiếm 80 % tổng số hoa Việt Nam xuất khẩu,  đã có mặt tại  Nhật, Singapore, Đài Loan, Úc, Thái Lan, Bỉ, Hòa Lan, Hiệp Hội Âu Châu, Hoa Kỳ, Trung Quốc v.v….Các công ty “ Rừng Hoa Đà Lạt”  thành danh là Đà Lạt Hasfarm, Rừng Hoa Company, Mai Nguyễn Company , Lang Bian Farm … còn cần  thêm cố gắng khảo cứu , đầu tư v. v ..  mới  đạt được những mức xuất cảng qua Âu Mỹ  sánh ngang hoa Lan  Thái Lan,  hoa Hồng  Colombia, tu líp  Hòa Lan.

     Trà ( Chè ) là cây công nghệ lớn nhất tỉnh, chiếm gần 26000 ha  năng xuất  búp  lá tươi là 10 – 28 tấn/ha, sản lượng hàng năm  200 000  tấn, 27 % tổng lượng trà tươi nước nhà. Lâm Đồng cũng là tỉnh sản xuất nhiều trà nhất nước.  Vào thập niên 1950 chỉ mới có vài trăm ha  trà , nhưng năm  2012 Lâm Đồng đã có 22 934 ha,   trong đó 1000 ha là các giống trà chế biến thành trà cao phẩm  kiểu trà Ô Long , Kim Xuyên, Tứ Quý v.v… “Trà Việt” Lâm Đồng – trước đây gọi là Trà Bảo Lộc nay là Trà Cầu Đất  Đà Lạt, Minh Rồng, Golden Dragon, Di Linh.  Năm 2012 , Trà Lâm Đồng xuất khẩu là  12 059 tấn đủ lọai, trị giá  23 triệu đô la USD.  Còn mạnh mẽ hơn  ngành trà  là cà phê Lâm Đồng-Di Linh, diện tích  năm 2012  là 153 432  ha , trong tổng diện tích tỉnh trồng cây công nghệ lâu năm là 176 000 ha , năng xuất   có thể trên  3. 5 tấn/ ha hột đậu  thương mãi – commercial coffee beans . Năm 2012,  Lâm Đồng xuất khẩu  57 673 tấn cà phê , trị gíá  192 triệu đô la, chiếm đến 80%  lợi tức  tổng xuất  khẩu tỉnh. Tỉnh đang tìm đầu tư thiết lập một nhà máy chế biến cà phê tan liền – instant coffee, dung lượng là  5 000 tấn, tư bản cần có là 6 triệu đô la Mỹ.  Một cây lâu năm khác  khởi sự cũng từ cuối thập niên 1950 ở Bảo Lộc là trồng dâu nuôi  tằm , mở rộng thêm nhiều với dân di cư miền Bắc sau các năm  1955- 56. Hổ trợ cho ngành trồng dâu tằm là các dự án đầu tư  quay tơ sợi tơ tằm Spulsilk thread spinning  factory dung tích  150 tấn Spulsilk thread/ năm của hảng VietNam Mulberry and Silk Corporation ;  Xưởng dệt tơ tằm silk knitting factory   ở thị trấn Bảo Lộc ,dung lượng 1500 000m /năm ; Xưởng  tẩy trắng – chuội lụa , nhuộm và in màu ở thị trấn Bảo Lộc, cũng của Công ty ViêtNam Myulberry  and Silk Corporation, chuội 2 triệu m tơ /năm, nhuộm 1 5 triệu m /năm, in 1.5 triệu m/năm, tổng phí đầu tư là 8 triệu đô la Mỹ .

     Có lẽ cũng không nên quên ngành ởquanh Đà Lạt làm thuốc chửa đau gan, đau thận ( ? ) nay diện tích đã trên 15 000 ha, trồng cây kí ninh trị sốt rét, trồng cây ăntrái xứ mát như mận tây  – plum , hồng trái ka ki, nuôi trồng các lòai nấm ăn,  bắp cao năng , khoai mì cao năng, cung cấp nguyên liệu cho nhà máy  biến chế thực phẩm gia súc,gia cầm  ….

     Ngòai các Trung tâm khảo cứu Nông Lâm ,Trung tâm khảo  cúu Rau Hoa  của bộ Nông Nghiệp,  góp phần không nhỏ cho phát triễn nông nghiệp Lâm Đồng là Cục Khảo cứu Nguyên tử Lực và nay mai Trung tâm Khảo cứu  Sinh học đang xây dựng.  Các trung tâm khảo cứu này đã giúp nông lâm ngư Lâm Đồng trở thành  tỉnh tiền phong  áp dụng khoa học tiên tiến , trội nhất là trên phương diện hột giống, cây giống mới. Sở Khoa học và Kỷ thuật Lâm Đồng cho biết hiện nay  các giống mới – new varieties chiếm 80 %  rau hoa trồng trong tỉnh , 90 % giống lúa và bắp , 47 % cho trà – chè, 30 % cho dâu nuôi tằm và 12 % cho cà phê.  Các kỷ thuật  mới trồng trọt gồm các sản phẩm vi sinh – sinh học bảo vệ mùa màng , sử dụng  đèn LED ( diod phát quang ),   nhà kiếng và nhà bao lưới – nethouse,  tưới nhỏ giọt để bớt tốn nước,  dùng  plastic  trải đầy vườn có xoi  lỗ thủng nhỏ cho cây mọc , bớt tốn công làm cỏ  các hàng rau hoa trồg kho che đất  trồng thời xưa cũ , bớt tốn nước tưới tiêu nhờ giữ  ẩm  độ đất , không bốc hơi nước … Lâm Đồng đã có  58 cơ sở  sử dụng cấy mô – tissue culture ,  cung cấp hàng năm cả mấy chục triêu hột giống- cây giống mới, kể cả những thành công tạo  giống mới đột biến – mutants  của Cục Nguyên Tử Lực Đà Lạt. Giúp cho Nông Nghiệp  Lâm Đồng trong 8 tháng đầu năm 2013 , đạt tổng giá trị  là 3.766  ngàn tỉ- trillion Đồng ĐVN, hay  90 triệu Đồng ĐVN  một ha mỗi năm , nghĩa là 2-3 lần trung bình  cả nước . 

 GS. TÔN THẤT TRÌNH

(Irvine, Nam Ca Li – Hoa Kỳ,
ngày 26 tháng 6 năm 2014 )

 

Bạn đang theo dõi trang: Văn Tạp Ghi Lạm Bàn Phát Triển Tỉnh Lâm Đồng Thị Xã Đà Lạt _ (GS. Tôn Thất Trình) (Tạp Ghi)