Nữ sĩ Thân Thị Ngọc Quế _ Việt Trang & Phạm Thị Mai Hương _ (Hồi ký)

 

NỮ SĨ THÂN THỊ NGỌC QUẾ

GIỌT NƯỚC CÀNH SEN

(Kính tặng chị Ngọc Quế)

Giọt nước cành sen lóng lánh hồng

U hương thanh đạm toả hư không

Tiếng thơ rung cảm hồn kim cổ

Ý đạo tình quê mạch chuyển dòng

Việt Trang

Vào thời "bao cấp", những lúc trốn Dalat vài ngày về Sài Gòn đối với tôi thật là thích thú . Không ai biết mình là một phó thường dân không chút giá trị trong xã hội, có chút hứng thú làm thơ mà không dám gởi cho bạn bè đọc sợ phạm chính trị vì mình là công chức chế độ cũ. Về Sài Gòn như cởi gánh nặng ấy, tôi được nhà thơ, thư pháp Song Nguyên, thi sĩ Mạnh Hồ đưa đến  câu lạc bộ thơ của các quận. Ở đó, tôi thật hạnh phú được nghe thơ và đọc thơ

Tôi thích nhất những buổi bình thơ ở câu lạc bộ thơ Phú Nhuận, do cô Thường Đoan- PN chủ nhiệm. Mỗi người được đọc một bài thơ nhưng cô ưu ái dành cho tôi nhiều thời gian hơn. Tôi ngẫu hứng đàm đạo chuyện văn thơ với mọi người từ nhà thơ Bùi Giáng, Tô Kiều Ngân đến những người chưa biết làm thơ, chỉ có điểm chung duy nhất: yêu thơ.

Trong mối hữu duyên ấy, tôi quen chị Ngọc Quế. Chị Thân Thị Ngọc Quế hay Thanh Thanh Ngọc Quế, là vợ của bác sĩ – họa sĩ Dương Cẩm Chương. Ông thích hội họa, chị mê làm thơ. Hai vợ chồng chị yêu nghệ thuật và thích đi du lịch.

Chị Ngọc Quế  sống ở Pháp, thỉnh thoảng trở về thăm Việt Nam và làm thơ khi tuổi đã lớn. Thơ của chị đầy ắp tình người, tình quê hương. Nhạc sĩ Trịnh Công sơn đã phổ nhạc tập “Giọt nước cành sen” và thi sĩ Bùi giáng đọc thơ của chị phải thốt lên: “món quà rạng rỡ của sông Hương núi Ngự đã gởi đến tặng vào những ngày hiu hắt nhất của kiếp thơ này!”.

Mỗi khi về Việt nam anh chị đều lên Dalat. Họ yêu Dalat như Paris thứ hai. Chị Quế rời quê hương rất lâu nhưng cuộc sống phương Tây không làm mất vẻ thùy mị của người phụ nữ Huế, nét đôn hậu của một người có cá tính dịu dàng. Chị Ngọc Quế biết tôi người Huế, lại ở Dalat nơi chị yêu quí nên dành cho tôi nhiều thiện cảm, thương tôi như em.

Năm 1991, Song Nguyên gởi bài thơ của tôi dự thi ở Câu Lạc Bộ Thơ quận 8, tôi đoạt giải ba. Khi lên lãnh giải, tôi đọc bài thơ của mình, người đoạt giải nhất từ chối không lên đọc bài thơ của mình. Song Nguyên bảo:

-Em nghĩ tại anh ở Dalat đến nên họ không trao giải nhất cho anh được. Người đoạt giải nhất ngại làm không hay nên họ không đọc.

Chúng tôi đến thăm chị Ngọc Quế. Song Nguyên kể lại chuyện tôi được thưởng. Khuôn mặt chị  hiện nét vui:

-Chị khen em! Chị thưởng cho em.

Chị bắt tôi đọc lại bài thơ, phê bình từng câu một. Chị vào nhà, lấy một tờ dollard đưa cho tôi:

-Chị cho em một nửa, Hạnh Cư một nửa.

Tôi về khoe với Mai Trang, cô con gái lớn của mình :

- Cô Ngọc Quế thưởng cho ba và Hạnh Cư một đô. Chắc mỗi người được 50 ngàn

Trang cầm tờ dollard lên nhìn:

-Không phải một đô đâu ba, đây là tờ 100 đô.

Tôi nhờ đổi làm hai tờ 50 dollard. Ngày 30 Tết, tôi đến nhà Hạnh Cư.

Nguyễn Hữu Cư là đại úy VNCH đi học tập mới về. Cư đàn, phổ nhạc rất hay, vợ là giáo viên tên Đức Hạnh nên lấy tên Hạnh Cư

Ngày Tết trong nhà Hạnh Cư bày biện sơ sài, chưa có hương vị mùa Xuân. Tôi bảo:

-Hôm nay Việt Trang giàu lắm, Việt Trang cho Hạnh Cư tiền đô nghe.

Hạnh Cư ngờ vực không tin vì biết tôi chẳng giàu mà con cái lại đông. Khi tôi đưa tiền ra, Cư cầm tờ tiền mừng sung sướng. Tôi cười:

-Không phải của Việt Trang mô, của chị Ngọc Quế cho đó.

Cư nghẹn lời:

-Anh biết không. Đây quả là một số tiền rất lớn đối với em.

Tấm lòng thương người tế nhị của người phụ nữ ấy làm chúng tôi không bao giờ quên được. Mặc dù giờ Cư đã định cư ở Mỹ, tiền bạc không còn phải làm bận lòng người nhưng tôi chắc tờ 50 đô hồi ấy có một giá trị không bao giờ thay thế được.

Sau này, tôi ít về Sàigon, tôi đinh ninh chị đã về Pháp nhưng không ngờ chị xuất gia cửa Phật. Khi chị mất, tôi không hay, mãi sau mới biết chị Thân Thị Ngọc Quế tức ni sư Thích Nữ Tâm Mãn đã từ trần ngày 6 . 6 . 2007 được hỏa táng  đưa về chùa Vạn Phước ở Huế nơi chị sinh ra.

Đó là một trong những người phụ nữ mà tôi kính trọng và thương mến nhất

HOA NGỌC QUẾ

Ánh nguyệt lung linh gội khắp vườn

Thềm hoa nghiêng đọng nhánh trầm hương

Đã hay ngàn dặm mây vô định

Từng rõ khắp nơi gió viễn trường

Tâm giữa vô thường tâm mộng kết

Nẻo về an tịnh nẻo thơ vương

Nghe thân thiết lắm tình quê cũ

Trong cõi đất trời vỡ tiếng sương

Việt Trang

Phạm Mai Hương

(viết theo lời ba, nhà thơ

Việt Trang kể. 2007)